Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

749 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Việt Nam - thực trạng và giải pháp

Luận văn tốt nghiệp
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng thể cá nhân, những con người
cụ thể tham gia vào quá trình lao động, nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố về
thể lực và trí lực, thuộc những người có giới hạn tuổi từ 15 trở lên.
Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được xét theo chỉ tiêu về chất lượng và số
lượng. Nguồn nhân lực được xem xét theo chỉ tiêu số lượng là nguồn nhân lực
được thể hiện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ
tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số, quy
mô tăng dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến tốc độ và
quy mô tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.
Nguồn nhân lực được nghiên cứu về chỉ tiêu chất lượng được thể hiện
trên các mặt trình độ văn hoá, trình độ kiến thức chuyên môn, năng lực phẩm
chất… Cũng như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng
nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật
chất và tinh thần cho xã hội.
1.3. Phân loại nguồn nhân lực
Căn cứ theo các tiêu chí nghiên cứu khác nhau thì nguồn nhân lực được
phân chia thành các loại như sau:
Thứ nhất, căn cứ theo nguồn gốc hình thành thì nguồn nhân lực được
chia thành:
- Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số là toàn bộ những người nằm
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm
việc hay không làm việc.
- Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số
hoạt động kinh tế đây là toàn bộ những người đang có việc làm, đang hoạt
động trong các ngành kinh tế và văn hoá của xã hội.
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, giữa nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và nguồn nhân lực
tham gia vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau. Sự khác nhau này do có một
bộ phận người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì nhiều
nguyên nhân khác nhau nên chưa tham gia vào hoạt động kinh tế, chẳng hạn
như thất nghiệp, có việc làm nhưng không muốn làm việc, còn đang học tập,
có nguồn thu nhập khác không cần đi làm…
- Nguồn nhân lực dữ trữ trong nền kinh tế bao gồm những người nằm
trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau họ chưa có việc làm ngoài
xã hội, như người làm công việc nội trợ trong gia đình, những người tốt
nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp, những người
trong độ tuổi lao động nhưng trong tình trạng thất nghiệp.
Thứ hai, căc cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực tham gia
vào nền sản xuất xã hội thì nguồn nhân lực được chia thành:
- Bộ phận nguồn lao động chính là bộ phận nằm trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động.
- Bộ phận nguồn lao động phụ là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao
động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất.
- Các nguồn lao động khác là bộ phận nhân lực hàng năm được bổ sung
thêm từ bộ phận xuất khẩu lao động, hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về…
Thứ ba, căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không có việc làm thì
nguồn nhân lực được phân chia thành:
- Lực lượng lao động là bao gồm những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những
người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.
- Nguồn lao động là bao gồm những người thuộc lực lượng lao động và
những người thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm.
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
1.4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là tất cả các hoạt động nhằm duy
trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết
định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh
tranh. Vì vậy quá trình đào tạo và phát triển NNL cần được tiến hành một
cách có tổ chức và có kế hoạch.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động
học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người
lao động, với mục đích nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho
người lao động theo hướng đi lên. Vậy xét theo nội dung đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực thì có ba hoạt động là giáo dục, đào tạo và phát triển.
Trước hết, hoạt động giáo dục là các hoạt động học tập, giúp con người
trang bị các kiến thức để bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một
nghề mới phù hợp hơn.
Tiếp theo, đào tạo là các hoạt động học tập, trang bị cho người lao động
những kiễn thức, kỷ năng, kỷ xảo liên quan đến nghề nghiệp giúp cho người
lao động khắc phục những kiến thức còn thiếu hụt hoặc trang bị cho họ thêm
kiến thức mới để có thể thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Cuối cùng là phát triển nguồn nhân lực là những hoạt động cung cấp
cho người lao động những kiến thức cần thiết nhằm giúp họ vượt ra khỏi
những yêu cầu của công việc hiện tại để họ có thể thực hiện các công việc
mới hơn hoặc các công việc phức tạp hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi
trong tương lai của tổ chức.
Như vậy, giáo dục, đào tạo và phát triển đều là các hoạt động học tập
nhằm cung cấp cho người lao động các kiến thức kỹ năng, kỹ xảo để họ có thể
thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
1.5. Ý nghĩa, vai trò của đào tạo và phát triển NNL trong tổ chức
Đào tạo và phát triển NNL nhằm sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có
trong tổ chức và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức, giúp cho người lao động
có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề, ham học hỏi.
Đào tạo và phát triển NNL là công tác rất quan trọng trong mỗi tổ chức
vì nó không những đáp ứng được nhu cầu tồn tại, phát triển tổ chức mà còn
đáp ứng được nhu cầu học tập, phát triển của người lao động vừa là giải pháp
có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức đó.
Đào tạo và phát triển là điều kiện quyết định để tổ chức có thể tồn tại và
đi lên trong cạnh tranh. Công tác đào tạo và phát triển NNL giúp cho các tổ
chức nâng cao năng suất lao động, chất lượng công việc, tránh lãng phí thời
gian và tiền của, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Đồng thời, công tác đào tạo và
phát triển còn giúp cho người lao động và ttor chức có sự gắn kết, nâng cao
trình độ chuyên môn của người lao động, tạo tinh thần trách nhiệm làm việc
cho người lao động.
II. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực
2.1. Vốn
Vốn là yếu tố quan trọng để thực hiện chương trình đào tạo và phát
triển. Vốn là nguồn kinh phí vật chất chủ yếu cung cấp cho quá trình đào tạo
NNL được hình thành và thực hiện. Nếu không có nguồn vốn tài chính thì quá
trình sẽ khó được thực hiện theo kế hoạch. Nguồn vốn cho đào tạo và phát
triển NNL được trích từ nguồn chí phí hoạt động sản xuất kinh doanh, quỹ
phúc lợi của tổ chức, nguồn tài trợ của các tổ chức ngoài doanh nghiệp, nguồn
CBCNV tự đi học…hoặc có thể là do ngân sách Nhà nước cấp. Như vậy có
nghĩa là nguồn vốn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, vào kết quả sản xuất
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
kinh doanh của tổ chức đó và vào chính sách của từng tổ chức trích từ lợi
nhuận sau thuế cho các quỹ phúc lợi.
Nguồn vốn này cung cấp cho các hoạt động của đào tạo và phát triển
NNL bao gồm: Chi phí thuê giáo viên giảng dạy; Thuê cơ sở vật chất, trang
thiêt bị kỹ thuật phục vụ giảng dạy; Chi phí xây dưng, lập chương trình đào
tạo, tài liệu sử dụng trong quá trình giảng dạy; Nguồn tài chính cung cấp
trong quá trình CNV đi học tập: hỗ trợ tiền lương, học bổng…
Thực tế cho thấy, nếu doanh nghiệp nào có nguồn vốn lớn thì quá trình
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thực hiện thường xuyên và chất
lượng hơn.
2.2. Chất lượng Nguồn nhân lực
Con người là đối tượng của quá trình đào tạo và phát triển NNL và con
người cũng là mục tiêu của quá trình đào tạo. Vì vậy chất lượng NNL quyết
định đến nội dung của quá trình đào tạo, hình thức quá trình đào tạo, thời gian
đào tạo, chi phí đào tạo. Chất lượng NNL cao thì quá trình đào tạo diễn ra đơn
giản, quá trình đào tạo chỉ là nâng cao kiến thức chuyên môn, nếu có kiến
thức sẵn thì đào tạo dễ tiếp thu và dễ hiểu hơn. Các yếu tố như trình độ, tuổi
tác, tuổi nghề, hoàn cảnh gia đình, tình trạng bản thân, khả năng tiếp thu… có
ảnh hưởng đến kết quả của đào tạo NNL. Tính chất công việc càng cao, yêu
cầu chất lượng NNL tương ứng, do đó quá trình đào tạo trở nên thiết yếu hơn,
vai trò được thể hiện rõ hơn.
2.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất, trang thiết bị bao gồm phòng học, trang thiết bị giảng
dạy, máy móc, vật thí nghiệm, tài liệu…có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
đào tạo. Nếu cơ sở trang thiết bị tốt tạo động lực cho người học viên cảm thấy
thoái mái khi học tập, mức tập trung hoc tập cao dẫn đến quá trình đào tạo
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
hiệu quả cao. Trong yếu tố này cần quan tâm đến đầu tư theo chiều sâu vì
theo tiến bộ phát triển của khoa học kĩ thuật thì ngày càng ra đời nhiều trang
thiết bị giảng dạy học tập hiện đại, để áp ứng yêu cầu phục vụ cho quá trình
đào tạo đạt hiệu quả.
Để có cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo tốt, còn phụ thuộc
rất nhiều vào quan điểm của từng tổ chức về đào tạo, vào sự đầu tư của từng
tổ chức vào độ lớn của quỹ phúc lợi…
2.4. Công tác tổ chức đào tạo
Ở mỗi tổ chức có hệ thống công tác tổ chức riêng, phù hợp với điều
kiện riêng của từng tổ chức. Vì vậy, Chương trình đào tạo phải hợp lý, khoa
học, phù hợp với môi trường doanh nghiệp. Đó là sự thống nhất tổ chức từ
trên xuống dưới, thống nhất hình thức, phương pháp đào tạo. Để làm được
điều đó thì người lãnh đạo phải đưa ra quyết định đào tạo để đáp ứng nhu cầu
của tổ chức và đưa ra các kế hoạch dự trù các rủi ro có thể xảy ra. Tổ chức
cũng phải xác định thời gian đào tạo cho phù hợp để vừa đạt được hiệu quả
đào tạo vừa đáp ứng được nhu cầu đào tạo.
Như vậy, công tác đào tạo tốt cũng là một trong những nhân tố ảnh
hưởng trực tiếp đến kết quả của quá trình đào tạo.
2.5. Đội ngũ giáo viên
Để học viên tiếp thu được hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào công tác tổ
chức, cơ sở vật chất, nguồn tài chính, bản thân người học viên mà còn phụ
thuộc rất lớn vào đội ngũ giáo viên. Đó là chất lượng giáo viên và tinh thần
trách nhiệm của đội ngũ giáo viên.
Chất lượng của giáo viên được thể hiện ở kiến thức chuyên môn giảng
dạy, kinh nghiệm giảng dạy, kỹ năng truyền đạt thông tin, sự sáng tạo trong
phương pháp giảng dạy… Bên cạnh đó, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
giáo viên cũng không kém phần quan trọng đó là sự yêu nghề, trách nghiệm
của một người giáo viên, sự quan tâm đến các học viên… Tất cả những yếu tố
trên đều ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài giảng của học viên.
Bất kỳ tổ chức nào cũng hướng tới quá trình đào tạo với đội ngũ giáo
viên dày dạn kinh nghiệm để đạt hiệu quả cao trong quá trình đào tạo, vì mục
tiêu cơ bản của tổ chức là sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.
III. Nội dung của đào tạo và phát triển NNL
3.1. Xác định nhu cầu đào tạo
Nhu cầu đào tạo được xác định dựa trên sự phân tích về nhu cầu lao
động của tổ chức, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc, trình độ
công việc. Qua đó nhằm xác định nhu cầu đào tạo của từng phòng ban, nhu
cầu diễn ra vào thời điển nào, thời gian bao lâu, chương trình đào tạo, số
lượng người lao động cần đào tạo… Có ba cách tính nhu cầu đào tạo, đó la
phương pháp tính theo tổng hao phí thời gian, phương pháp căn cứ vào số
lượng máy móc kỹ thuật và phương pháp dùng chỉ số.
- Phương pháp tính toán theo tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật
cần thiết để hoàn thành từng sản phẩm và quỹ thời gian lao động của công
nhân viên kỹ thuật tương ứng.
KTi =
HiQi
Ti
×
Trong đó:
KTi: Nhu cầu công nhân viên thuộc nghề (chuyên môn) i.
Ti: Tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i
cần thiết để sản xuất.
Qi: Quỹ thời gian lao động của một công nhân viên kỹ thuật thuộc nghề
(chuyên môn) i.
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
Hi: Khả năng hoàn thành vượt mức ở kỳ triển vọng của công nhân viên
kỹ thuật thuộc nghề (chuyên môn) i.
- Phương pháp căn cứ vào số lượng máy móc kỹ thuật cần thiết cho quá
trình sản xuất, mức đảm nhiệm của một công nhân viên kỹ thuật và hệ số ca
làm việc của máy móc thiết bị.
KT =
N
HcaSM
×
Trong đó:
SM: Số lượng máy móc trang thiết bị kỹ thuật cần thiết ở kỳ triển vọng.
Hca: Hệ số ca làm việc của máy móc trang thiết bị.
N: Số lượng máy móc trang thiết bị do công nhân viên kỹ thuật phải
tính.
- Phương pháp dùng chỉ số để dự đoán nhu cầu công nhân viên kỹ
thuật.:Dự đoán nhu cầu công nhân viên kỹ thuật căn cứ và chỉ số tăng của sản
phẩm, chỉ số tăng của công nhân viên kỹ thuật trên tổng số công nhân viên và
chỉ số tăng năng suất lao động kỳ kế hoạch.
I
KT
=
Iw
ItIsp
×
Trong đó:
I
KT
: Chỉ số tăng công nhân viên kỹ thuật.
I
SP
: Chỉ số tăng sản phẩm.
I
t
: Chỉ số tăng tỉ trọng CNV kỹ thuật trên tổng số.
I
w
: Chỉ số tăng năng suất lao động.
Phương pháp này cho số liệu không chính xác bằng cách tính theo các
phương pháp trên. Phương pháp này thường được dùng để dự đoán nhu cầu
công nhân viên kỹ thuật của các công ty lớn trong các kế hoạch dài hạn.
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
3.2. Xác định mục tiêu đào tạo và phát triển
Mục tiêu của việc đào tạo và phát triển nhằm giúp chúng ta đưa các số
liệu về kỹ năng cụ thể cần được đào tạo, trình độ kỹ năng có được sau thời
gian đào tạo, về thời gian thực hiện đào tạo hợp lý nhất, nhằm xác định số
lượng công nhân viên cần đào tạo thích hợp, xác định cơ cấu công nhân viên
đào tạo trong từng bộ phận, phòng ban.
Quá trình đào tạo và phát triển NNL nhằm thực hiện mục tiêu đó là đáp
ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức, đối với người lao động là nhằm
đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của mình. Ngoài ra, đào tạo và phát triển
NNL là giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của các doanh
nghiệp.
3.3. Lựa chọn đối tượng đào tạo
Lựa chọn người cụ thể để đào tạo và dựa các tiêu chí sau:
- Nghiên cứu và xác định nhu cầu đào tạo của người lao động.
- Nghiên cứu và xác định động cơ lao động.
- Tác dụng của đào tạo đối với người lao động và khả năng nghề nghiệp
của từng người.
Lựa chọn đối tượng đào tạo phù hợp cũng rất quan trọng vì nếu lực
chọn không đúng đối tượng sẽ gây ra lãng phí thời gian và tiền của trong khi
đó hiệu quả của đào tạo là thấp, thậm chí là không mang lại hiệu quả gì.
3.4. Xây dựng chương trình đào tạo và phát triển
Xây dựng chương trình đào tạo hợp lý và khoa học nhằm xác định các
yếu tố và trình tự quá trình đào tạo. Chương trình đào tạo là hệ thống các bài
học, các kiến thức cần truyền đạt trong quá trình giảng dạy để thực hiện
những mục tiêu của quá trình đào tạo đã đề ra. Chương trình đào tạo được xây
dựng dựa trên các mục tiêu về đào tạo, về đối tượng đào tạo, về hình thức đào
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B
Luận văn tốt nghiệp
tạo… đã được xác định ở trên. Chương trình đào tạo được cụ thể hoá bằng hệ
thống các môn học, thời gian học, thời lượng các tiết…
3.5. Phương pháp đào tạo và phát triển
Theo nghiên cứu và thực tế cho thấy có rất nhiều phương pháp để đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực. Mỗi phương pháp có cách thức thực hiện và
ưu nhược điểm khác nhau, vì vậy mỗi tổ chức cần lựa chọn cho mình phương
pháp đào tạo và phát triển phù hợp nhất cả về mục tiêu, kế hoạch phát triển
của tổ chức, điều kiện về tài chính, tính chất công việc, đặc điểm quy trình
công nghệ, đặc điểm cơ cấu nguồn nhân lực… Thông thường có hai hình thức
đào tạo chủ yếu sau đây.
3.5.1. Đào tạo trong công việc
Là phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học
sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực
hiện công việc và dưới sự hướng dẫn của người lao động lành nghề.
- Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn: Là phương pháp phổ biến dùng để dạy các
kỹ năng thực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một
số công việc quản lý. Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải
thích của người dạy về mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng
bước về các quan sát, trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới
sự hướng dẫn của người dạy
- Đào tạo theo kiểu học nghề: Là “sự kèm cặp của công nhân lành nghề
đối với người học và là phương pháp thông dụng ở Việt Nam” (Trích TL số
1). Chương trình đào tạo bắt đầu từ việc học lý thuyết trên lớp sau đó học viên
sẽ được thực hành trực tiếp làm việc dưới sự quan sát của người có kinh
nghiệm. Học viên được thực hiện các công việc thuộc nghề cần học cho tới
Sinh viên: Đinh Thị Mai Hương Lớp: KTLĐ 46B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét