Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dùng, quy mô của thị trường, giá cả và tình hình các hàng hoá khác, sở
thích người tiêu dùng, trong đó thu nhập của người tiêu dùng là quan trọng nhất.
Cung: Là toàn bộ hàng hoá là quan trọng nhất và có thể đưa ra ở thị
trường một mức giá nhất định. Nói cụ thể hơn cung là lượng một mặt hàng
mà người bán muốn bán ở mức giá nhất định cung phụ thuộc vào: Chi phí
sản xuất, giá cả, tình trạng hàng hoá khác.
Mối tương quan giá cung - cầu: Chính xác hơn là điều chỉnh độ
chênh lệch giá cả thị trường sự biến đổi, tương quan giữa cung và cầu, sự
lên xuống của giá cả thị trường và ngược lại giá cũng tác động đến đối với
cung và cầu. Như vậy thông qua sự tác động qua lại giữa giá cả thị trường
và quan hệ cung cầu làm cho nền kinh tế luôn hướng đến trạng thái cân bằng.
1.2.1.3 Quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lợi
nhuận tối đa cho mình. Cạnh tranh là yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường.
Đó là hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường ở đâu có sản xuất và trao đổi
thị trường ở đó có cạnh tranh vai trò của cạnh tranh được thể hiện qua các
chức năng sau:
Cạnh tranh là cơ sở điều chỉnh linh hoạt của sản xuất xã hội và do đó
làm cho sự phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu. Mục
đích hoạt động doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa. Vì vậy họ sẽ đầu tư vào
những nơi có lợi nhuận cao.
Cạnh tranh kích thích tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất, người sản
xuất nào có công nghệ tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch do đó
cạnh tranh là áp lực so với người sản xuất buộc họ phải cải tiến kỹ thuật,
nhờ đó kỹ thuật và công nghệ của toàn xã hội được phát triển.
1.2.1.4. Quy luật lưu thông tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường lưu thông tiền tệ có tác dụng trực tiếp
đến nhà sản xuất và trao đổi hàng hoá. Tình trạng thiếu thừa tiền trong lưu
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thông điều hành biến đổi chỉ số giá cả, gây khó khăn cho lưu thông hàng
hoá và hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy trong cơ chế thị trường với sự tác động của các quy luật
kinh tế vốn có của nó vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá được
biểu hiện qua giá cả thị trường đã phân bổ các nguồn lực xã hội làm cho
nền kinh tế thị trường luôn tự điều chỉnh tự "vận hành" một cách bình
thường
1.2.2. Bản chất của cơ chế thị trường
Kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà ở đó quá trình
sản xuất phân phối sản phẩm, phân chia lợi ích, thiết lập các quan hệ kinh
tế do các quy luật của thị trường điều tiết chi phối. Nhưng cơ bản cơ chế thị
trường là cơ chế giá cả tự do mà nó có các đặc trưng sau:
+ Việc phân bổ sử dụng các nguồn tài nguyên là có hạn như: Lao
động, vốn, tài nguyên thiên nhiên…cơ bản được quyết định một cách
khách quan, thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, đặc biệt là
quy luật cung cầu.
+ Tất cả các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều được tiền tệ hoá.
+ Tự do lựa chọn sản xuất kinh doanh và tiêu dùng từ phía các nhà
sản xuất và những người tiêu dùng thông qua các mối quan hệ kinh tế.
+ Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và lợi ích kinh tế được biểu hiện tập trung ở mức độ lợi nhuận.
+ Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, đặc biệt là sự
linh hoạt của hệ thống giá cả, nền kinh tế thị trường luôn duy trì được cân
bằng giữa sức cung và sức cầu của tất cả các loài hàng hoá và dịch vụ ít
gây ra được sự thiếu thốn và khan hiếm hàng hoá.
+ Cạnh tranh là môi trường thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy
năng suất lao động tăng và tăng hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trường thường dẫn đến hai khuynh hướng đều nguy
hiểm: Độc quyền và phá sản.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Kinh tế thị trường luôn tạo ra cơ hội cho mọi người sáng tạo tìm
cách cải tiến về lối làm việc có hiệu quả hơn.
+ Kinh tế thị trường chú ý đến khả năng thanh toán chứ không phải
nhu cầu nói chung.
+ Ngoài ra nảy sinh khuynh hướng xã hội thị trường. Chạy theo nếp
sống tiêu xài mà không chú ý đúng mực tới y tế, giáo dục, kinh tế thị
trường không tự điều chỉnh được "bất lực".
Trước các hậu quả do kinh tế thị trường tạo nên: Nạn ô nhiễm môi
trường, phá hoại môi sinh, tệ nạn xã hội. Mặc dù cơ chế thị trường ngày
nay đã đưa người tiêu dùng lên vị trí hàng đầu. Nhờ sự phát triển của lực
lượng sản xuất mới và nảy sinh các nhu cầu mới, đa dạng hơn trước. Cơ
chế thị trường có xu hướng thoả mãn nhu cầu không ngừng biến đổi các
nhóm dân cư sao cho phù hợp với lối sống, văn hoá của họ, thay cho
nguyên tắc sản xuất và cung ứng hàng loạt bất chấp nhu cầu. Nhà doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường đóng vai trò trung tâm, doanh nghiệp
thương mại là đầu mối là trung gian, là cầu nối giữa người sản xuất và
người tiêu dùng.
1.3. Cơ chế quản lý kinh tế định hướng theo xã hội chủ nghĩa
1.3.1. Nội dung quản lý kinh tế của nhà nước
+ Quyết định chiến lược phát triển kinh tế xã hội: Toàn bộ sự phát
triển của nền kinh tế phụ thuộc trước hết vào đường lối chiến lược phát
triển kinh tế. Để xây dựng chiến lược đúng, có căn cứ khoa học, cần phân
tích đúng thực trạng kinh tế - xã hội, xác định mục tiêu phát triển, lựa chọn
phương án tối ưu. Muốn vậy cần thực hiện dân chủ hoá, khoa học hoá, thể
chế hoá quyết sách.
+ Kế hoạch: Kế hoạch nói ở đây là kế hoạch thực hiện mục tiêu của
quyết định chiến lược kế hoạch xác định mực tiêu dài hạn, trung gian và
ngắn hạn, nêu ra biện pháp và phương thức thực hiện các mục tiêu đó.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+ Tổ chức: Tổ chức là một nội dung quản lý nằm đảm bảo thực hiện
kế hoạch đã định trước bao giờ việc bố trí hợp lý cơ cấu, xác định rõ chức
năng, quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức và dựa vào yêu cầu cụ thể
của các cơ cấu để lựa chọn và bố trí cán bộ thích hợp.
+ Chỉ huy và phối hợp: Nền kinh tế là một hệ thống phức tạp bao
gồm nhiều chủ thể khác nhau, vì thế để cho nền kinh tế hoạt động bình
thường, có hiệu quả, cần có sự chỉ huy thống nhất (điều chỉnh tự trung
tâm). Để có thể chỉ huy nền kinh tế, phải có cơ quan quản lý thống nhất, cơ
quan đó có quyền lực, có đầy đủ thông tin về mặt để điều hoà, phối hợp các
mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội, giải quyết kịp thời các vấn đề để nảy
sinh để bảo đảm cân bằng tổng thể của nền kinh tế.
+ Khuyến khích và trừng phạt: Bằng các đòn bẩy kinh tế và động
viên về tinh thần khuyến khích mọi tổ chức kinh tế hoạt động theo kế
hoạch, cố gắng thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch. Muốn vậy phải có chế độ
thưởng phạt rõ ràng, hoạt động theo định hướng kế hoạch, làm lợi cho nền
kinh tế thì được khuyến khích ngược lại, không làm theo định hướng của
kế hoạch, làm hại thì phải ngăn chặn và trừng phạt.
1.3.2. Các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
+ Hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ
mô của nhà nước, nó tạo ra khuôn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế
hoạt động, phát huy mặt cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường;
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ
thống luật bao trùm mọi hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm những điều
luật cơ bản về hoạt động của doanh nghiệp (Luật doanh nghiệp), về hợp
đồng kinh tế, về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo vệ môi
trường….Các luật bảo vệ hành vi của các chủ thể kinh tế, buộc các doanh
nghiệp phải chấp nhận sự điều tiết của nhà nước.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
+Kế hoạch hoá: Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là kế hoạch kết hợp chặt chẽ với nhau. Sự điều tiết của thị
trường là cơ sở phân phối các nguồn lực còn kế hoạch nói ở đây được
hoạch định trên cơ sở thị trường, bao quát tất cả, các thành phần kinh tế tất
cả các quan hệ kinh tế, kể cả quan hệ thị trường.
+ Lực lượng kinh tế của nhà nước: Nhà nước quản lý nền kinh tế
không chỉ bằng các công cụ pháp luật, kế hoạch hoá, mà còn bằng lực
lượng kinh tế của nhà nước và tập thể để chúng dần dần trở thành nền tảng
của nền kinh tế, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững. Nhờ đó nhà nước có sức mạnh vật chất để điều tiết, hướng dẫn nền
kinh tế theo mục tiêu kinh tế - xã hội do kế hoạch đặt ra.
+ Chính sách tài chính tiền tệ: Đối với nền kinh tế thị trường, Nhà
nước quản lý kinh tế bằng các biện pháp kinh tế chủ yếu. Những biện pháp
kinh tế điều tiết vĩ mô của nhà nước chủ yếu là chính sách tài chính và tiền
tệ, chính sách tài chính đặc biệt là ngân sách nhà nước có ảnh hưởng quyết
định đến sự phát triển toàn bộ nền kinh tế xã hội. Chính sách tiền tệ là một
công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu, vai trò của nó trong điều tiết kinh tế vĩ mô
ngày càng tăng cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
+ Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại. Để mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại, nhà nước sử dụng nhiều công cụ, trong đó chủ
yếu là xuất - nhập khẩu, bảo đảm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuất khẩu.
Thông qua các công cụ đó, nhà nước có thể khuyến khích xuất khẩu, bảo
hộ hợp lý sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hoá của
nước ta, giữ vững được độc lập, chủ quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia trong
quan hệ kinh tế quốc tế.
2.Các loại hình doanh nghiệp thương mại kinh doanh trong cơ
chế thị trường
2.1. Doanh nghiệp thương mại
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thương mại hình thành và phát triển cơ sở của sự phát triển lực
lượng sản xuất để sản xuất hàng hoá là tiền đề của thương mại. Sản xuất ra
hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán để trao đổi. Từ đó có thể nói:
"Kinh doanh thương mại là dùng tiền của công sức vào việc buôn
bán hàng hoá nhằm mục đích biến lợi".
"Doanh nghiệp thương mại là đơn vị kinh doanh" (Tổng công ty,
công ty, xí nghiệp) với hệ thống kho tàng, bến bãi, trạm, cửa hàng của mình
để thực hiện chức năng mua bán hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế quốc
dân. Doanh nghiệp thương mại thực chất là doanh nghiệp lưu thông hàng
hoá dịch vụ" hay một cách hiểu và dễ đạt ngắn gọn hơn doanh nghiệp
thương mại: "Doanh nghiệp thương mại là doanh nghiệp chuyên hoạt động
trong lĩnh vực mua bán hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm
thoả mãn nhu cầu của khách hàng nhằm và thu lợi nhuận.
2.2. Các loại hình doanh nghiệp thương mại
Trong những năm gần đây với đường lối phát triển kinh tế nhiều
thành phần, các loại hình doanh nghiệp thươg mại (DNTM) lại càng trở nên
phong phú đa dạng:
2.2.1. Căn cứ vào tính chất các mặt hàng kinh doanh có thể chia thành
+ DN kinh doanh chuyên môn hoá: Đó là các doanh nghiệp chuyên
kinh doanh một hoặc một số mặt hàng có cùng công dụng, trạng thái tính
chất hoặc phục vụ cho những nhu cầu nhất định trong nền kinh tế quốc dân.
Ví dụ, các tổng công ty của bộ công thương tổng công ty vật tư nông
nghiệp, xây dựng…
+ Doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp: Là doanh nghiệp kinh doanh
nhiều mặt hàng có công dụng trạng thái khác nhau phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng trên phạm vi lãnh thổ nhất định. Ví dụ các công ty của tỉnh (thành
phố, quận, huyện) thường là các đơn vị kinh doanh tổng hợp.
+ Các DN đa dạng hoá kinh doanh. Đa dạng hoá kinh doanh là các
doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (giống kinh doanh tổng hợp) và
nhiều lĩnh vực kinh doanh như sản xuất, dịch vụ, kinh doanh hàng hoá…
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2.2. Theo quy mô của DN chia thành
- DNTM có quy mô nhỏ
- DNTM có quy mô vừa
- DNTM có quy mô lớn
Để xếp loại DN người ta thường căn cứ vào hệ thống các tiêu thức
khác nhau. Đối với DNTM tiêu thức xếp loại là: vốn kinh doanh (KD) số
lượng lao động, doanh số hàng hoá lưu chuyển hàng năm, phạm vi địa bàn
kinh doanh…
Trong thực tế người ta coi các tập đoàn kinh doanh, các tổng công ty
là các doanh nghiệp có quy mô lớn còn lại là các DN vừa và nhỏ. Các DN
thương mại đa số là vừa và nhỏ.
2.2.3. Theo phân cấp quản lý chia ra
- DNTM do trung ương quản lý: Bao giờ các DNTM do các bộ, các
ngành của trung ương quản lý như DNTM của bộ công thương, của các bộ
ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
- DNTM do địa phương quản lý: Bao gồm các DNTM thuộc tỉnh,
thành phố, quận (huyện), thị trấn, thị xã, quản lý. Các DN địa phương quản
lý đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh doanh tổng hợp trên địa bàn
địa phương.
2.2.4. Theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất có:
Theo chế độ sở hữu tư liệu sản xuất có:
+ DNTM nhà nước: Theo điều 1 luật DN Nhà nước năm 2003 có
hiệu lực từ 1/7/2004 "DN nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn". Như vậy DNTM nhà nước có thể có các hình thức tổ chức sau:
- Công ty nhà nước.
- Công ty cổ phần nhà nước.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên
- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- DN có cổ phần, vốn góp có chi phối của nhà nước.
- Công ty nhà nước giữ quyền chi phối DN khác.
- Công ty nhà nước giữ quyền chi phối DN khác.
+ DNTM tập thể: DNTM mà vốn kinh doanh do tập thể lao động tự
góp vốn vào để cùng nhau hoạt động.
+ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
+ Công ty liên doanh với nước ngoài
+ DN tư nhân: Do các tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn
đăng ký kinh doanh.
Không thuộc loại hình doanh nghiệp, ở Việt Nam còn có hệ thống
những người buôn bán nhỏ, đó là các hộ cá thể có các cửa hàng, quầy hàng
kinh doanh hàng hoá phục vụ các nhu cầu của nhân dân.
Ngoài ra còn có sự pha trộn giữa các hình thức trên. Cùng với sự
phát triển của kinh tế, các loại hình của DNTM có xu hướng ngày càng đa
dạng, phức tạp, đan xen nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Ngày nay với sự
phát triển của kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp thuộc các loại
hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật, vì vậy việc phân loại
chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu việc nhận dạng các loại hình DNTM liên
quan đến xác định cơ cấu tổ chức quản lý, phương thức huy động vốn, chỉ
đạo các hoạt động kinh doanh của DN, đồng thời làm cơ sở cho việc quy
hoạch lại cơ cấu các loại DNTM trong tương lai.
2.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của DNTM
+ DNTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá
nhằm chuyển đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.
+ Sản phẩm của doanh nghiệp thương mại cung ứng cho khách hàng
về bản chất là dịch vụ phục vụ khách hàng.
+ Thị trường của DNTM đa dạng, rộng lớn hơn so với các đơn vị sản xuất.
+ Hoạt động xúc tiến thương mại có vai trò quan trọng đặc biệt.
+ Kinh doanh trong cơ chế thị trường luôn mở ra muôn vàn cơ hội
tìm kiếm lợi nhuận nhưng cũng đầy cạm bẫy rủi ro.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.4. Chức năng, nhiệm vụ của DNTM trong nền kinh tế quốc dân
2.4.1. Các chức năng của DNTM
+ Phát hiện nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và tìm mọi
cách để thoả mãn nhanh chóng các nhu cầu đó.
+ Phải không ngừng nâng cao trình độ thoả mãn nhu cầu của khách
hàng để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
+ Giải quyết tốt các mối quan hệ trong nội bộ DN và quan hệ giữa
DN với bên ngoài.
2.4.2. Các nhiệm vụ của DNTM trong nền kinh tế quốc dân
+ Kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã đăng ký và mục đích thành
lập doanh nghiệp.
+ Quản lý tốt lao động, vật tư, tiền vốn để không ngừng nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
+ Thực hiện phân phối theo lao động và chăm lo đời sống cho cán bộ
công nhân viên.
+ Thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội.
+ Tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước.
Doanh nghiệp thương mại là hợp phần tất yếu, quan trọng đối với
nền kinh tế quốc dân, là nơi thể hiện đầy đủ, tập trung nhất các mỗi quan hệ
lớn trong xã hội: Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu,
giữa xuất khẩu với nhập khẩu, giữa thu và chi ngân sách, đồng thời cũng là
nơi diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt quyết liệt giữa cơ chế quản lý cũ chưa bị
xoá bỏ hoàn toàn với cơ chế quản lý mới chưa hoàn chỉnh đan xen tồn tại
với nhau. Bởi vậy nếu làm tốt chức năng nhiệm vụ trên, các DNTM đã phát
huy vai trò cầu nối, là trung gian cần thiết giữa sản xuất với tiêu dùng.
Tích cực góp phần tăng tích luỹ xã hội nhằm thực hiện thắng lợi
công cuộc công nghiêp hoá hiện đại hoá và phát triển bình ổn.
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI Ở
DOANH NGHIỆP
1. Định nghĩa về kinh doanh
Kinh doanh là việc thực hiện tốt một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
2. Những nội dung cơ bản của kinh doanh thương mại
2.1. Nghiên cứu và xác định nhu cầu của thị trường về loại hàng
hoá và dịch vụ để lựa chọn kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh
doanh:
Đối tượng của KDTM là hàng hoá dịch vụ trong buôn bán hàng hoá.
DNTM có thể kinh doanh một loại hàng hoá (chuyên doanh) hoặc vài
nhóm hàng hoá khác nhau (tổng hợp) hoặc kinh doanh (tổng hợp) hoặc
kinh doanh hỗn hợp (vừa kinh doanh vừa sản xuất, gia công hàng hoá),
nhưng trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp phải
nghiên cứu thị trường và xác định nhóm mặt hàng để chọn kinh doanh. Có
rất nhiều hàng hoá khác nhau, mỗi loại hàng hoá khác nhau có tính cơ lý
hoá học và trạng thái khác nhau có nhu cầu tiêu dùng cho các khách hàng
khác nhau tiêu dùng cho sản xuất hàng tiêu dùng cá nhân. Doanh nghiệp
phải nghiên cứu xác định nhu cầu của khách hàng cho khu vực mình kinh
doanh và sự đáp ứng cho các nhu cầu đó hiện nay. Nghiên cứu thị trường
và xác định nhu cầu thị trường về mặt hàng doanh nghiệp sẽ kinh doanh
phải trên cơ sở doanh nghiệp có đủ trình độ chuyên môn về mặt hàng và
doanh nghiệp nắm được khả năng nguồn hàng đã biết và có khả năng khai
thác, đặt hàng, mua hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn cách
đáp ứng nhu cầu hiện tại. Từ đó DN chuẩn bị cơ sở vật chất chuẩn bị mặt
hàng, chuẩn bị các điều kiện để đưa vào hoạt động kinh doanh. Và công
việc đó không chỉ một lần mà trong quá trình kinh doanh luôn phải nghiên
cứu nhu cầu của thị trường về mặt hàng cùng loài mặt hàng mới, tiên tiến
La Văn Tuấn Lớp: Thương mại 46A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét