Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác vào dạy học ngữ văn 9

QUY ƯỚC VIẾT TẮT
NXB Nhà xuất
bản
SGK Sách giáo
khoa
GV Giáo
viên
HS Học
sinh
DHHT Dạy học hợp
tác
TLN Thảo luận
nhóm
KHTN Khoa học tự
nhiên
KHXH Khoa học xã
hội
PGS Phó giáo

TS Tiến

Th.S Thạc

THCS Trung học cơ
sở
THPT Trung học phổ
thông
Tr.
Trang
TN Thực
nghiệm
ĐC Đối
chứng
1
MỞ
ĐẦU
1. Lí do chọn đề
tài:
Khoa học kỹ thuật phát triển làm cho con người có những suy nghĩ

nhận thức mới trên tất cả các lĩnh vực. Hòa vào xu thế chung của cả thế
giới,
trong thập kỉ cuối của thế kỉ XX, nước ta đã phát động đổi mới phương
pháp
dạy học từ các trường phổ thông đến các trường đại học nhằm đáp ứng
tốt
nhất nhu cầu chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện của người học trong thời
đại
mới.
Ngày nay trong hoạt động giáo dục, vấn đề quan trọng đang đặt ra là
làm
thế nào để đạt được yêu cầu của dạy học tích cực. Để thực hiện được vấn
đề
này trong nhà trường phổ thông ở tất cả các môn học quả là một vấn đề
nan
giải. Hơn nữa, làm thế nào để thực hiện được phương pháp dạy học tích
cực
trong dạy học Ngữ văn thì càng khó khăn gấp bội. Có thể nói, môn Ngữ
văn
là một môn học có tác dụng khơi gợi những rung cảm, những cảm xúc
thẩm
mĩ trong lòng người học. Thế nhưng, nếu giáo viên (GV) không có cách
tổ
chức học tập tốt, môn học này sẽ trở thành một môn học buồn chán, nặng
nề,
làm nguội lạnh sự nhạy bén trong tư duy, xúc cảm của người học, làm
mai
một những khả năng diễn đạt và cảm nhận tác phẩm văn chương của học
sinh
(HS). Chính vì thế, việc vận dụng, thực hiện những phương pháp mới vào
dạy
học là một yêu cầu rất cần thiết đối với môn Ngữ
văn.
Với phương pháp dạy học mới này, vai trò người học được phát huy,
GV
chỉ là người hướng dẫn, điều khiển hoạt động học, còn HS sẽ là trung
tâm
trong quá trình lĩnh hội tri
thức.
Là một giáo viên giảng dạy trực tiếp ở trường phổ thông 11 năm, tôi đã
cố
gắng, nhiệt tình giảng dạy và đã đạt được những thành tích nhất định,
song
trong thâm tâm, tôi cảm thấy chưa thật hài lòng với cách dạy của mình.
Tôi
mong muốn các tiết dạy của mình phải làm sao tốt hơn nữa. Niềm mong
mỏi
tưởng như giản đơn song thực sự là bài toán khó đối với
tôi.
Được là thành viên của lớp Cao học Lí luận và phương pháp dạy học Văn
-
Tiếng Việt K
12
thực sự là điều may mắn đối với tôi vì đã tiếp thu được
khá
nhiều hình thức dạy học mới. Tôi nghĩ rằng, phần nhiều trong số những
hình
2
thức dạy học ấy, tôi có thể vận dụng được vào thực tế giảng dạy của
mình.
Phương pháp dạy học được tôi đặc biệt cảm thấy tâm đắc là dạy học hợp
tác
(DHHT). Trước đây, trong quá trình dạy học, tôi có áp dụng, nhưng khi
ấy,
tôi chưa thực sự hiểu rõ về phương pháp này. Do vậy, hiệu quả dạy học
chưa
cao. Việc DHHT cũng thỉnh thoảng được thực hiện ở một vài tiết dạy đối
với
một số giáo viên ở các trường phổ thông; nhưng nói chung việc vận
dụng
hình thức này còn ở mức độ nhỏ, lẻ và phần nhiều còn mang tính tự phát,
hình
thức. Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài thực nghiệm Vận dụng phương
pháp
dạy học hợp tác vào dạy Ngữ văn lớp 10P ở trường THPT chuyên Lý
Tự
Trọng - Thành phố Cần Thơ. Thực hiện đề tài này, người viết tin rằng sẽ
tích
lũy được những tri thức, những kinh nghiệm cần thiết góp phần phục vụ
công
tác giảng dạy tốt
hơn.
2. Lịch sử vấn
đề
DHHT là vấn đề không mới nhưng cũng chưa cũ đối với giáo dục
hiện
đại. Bởi phương pháp dạy học truyền thống không thể đáp ứng được
những
đòi hỏi nặng nề của nền giáo dục hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy
học
trong nhà trường để xóa bỏ phương pháp dạy học giáo điều là một đòi hỏi
cấp
bách nhằm giải phóng và phát huy tiềm năng sáng tạo cho người học ngay
từ
trên ghế nhà trường. Thế kỉ XXI là thế kỉ của chất xám, của trí tuệ, của
nền
văn minh hậu công nghiệp. Con người muốn tồn tại, muốn hòa nhập, muốn
tự
khẳng định mình thì trước hết phải là những thành viên năng động, sáng
tạo.
Mà phương pháp giáo điều không thể đảm đương trọng trách này. Vì
vậy,
phải tìm ra một phương pháp dạy học khác cho phù hợp, một trong
những
phương pháp đó là dạy học hợp tác. Tuy phương pháp dạy học này
không
phải hoàn hảo nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới
phương
pháp dạy học. Nhận thức được điều đó, trong những năm gần đây vấn đề
sử
dụng hình thức DHHT trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói
riêng
được các nhà nghiên cứu giáo dục, những nhà giáo có tâm huyết trong

ngoài nước quan tâm nhiều hơn, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu
quả
dạy
học.
Trong những năm gần đây, cùng với việc thay sách Văn và Tiếng Việt

phổ thông, đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy học Văn.
Hướng
3
đi này có nhiều hứa hẹn. Góp phần vào sự đổi mới này phải ghi nhận
công
sức của nhiều tác giả, nhà giáo có tâm
huyết.
Trong những tài liệu nói về phương pháp dạy học đó, một số nhà
nghiên
cứu, nhà giáo đã đưa ra phương pháp DHHT nói chung và DHHT trong
Ngữ
văn nói
riêng.
2.1 Nguyễn Hữu Châu trong bài viết Dạy học hợp tác đăng trên Tạp
chí
Thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 đã bàn đến phương
pháp
DHHT. Tác giả cho rằng: “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt
được
những mục tiêu chung. Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm
kiếm
những kết quả có ích cho họ và cho cả các thành viên của nhóm” [tr. 2;
3].
Và tác giả cũng chỉ ra cụ thể: “Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ
để
HS làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân
mình
cũng như người khác” [tr.2; 3]. Như thế, theo tác giả, DHHT nhằm đạt
được
hiệu quả tối đa trong giờ học. Và Nguyễn Hữu Châu nói rằng, để đạt được
sự
hợp tác có hiệu quả thì GV phải tạo lập được 5 yếu tố cơ bản trong mỗi
bài
học, đó là: sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực; trách nhiệm của cá
nhân
và của nhóm; khuyến khích sự tác động qua lại, tốt nhất là bằng hình
thức
trực diện; dạy HS một số kĩ năng hoạt động liên cá nhân và nhóm nhỏ
cần
thiết; và quá trình hoạt động nhóm. Trong 5 yếu tố trên, tác giả cho rằng
yếu
tố quan trọng nhất là sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính tích cực. Kết thúc
bài
viết, ông chỉ ra thành công của DHHT là: “Những hiệu quả to lớn mà sự
hợp
tác đem lại tạo nên sự khác biệt của học hợp tác với nhiều phương pháp

làm cho nó trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất đảm bảo
sự
thành công của HS” [tr. 5;
3].
Như thế, có thể nói Nguyễn Hữu Châu đã đề cao vai trò của DHHT so
với
những phương pháp khác, và tác giả cũng cho rằng, sử dụng phương
pháp
này, HS sẽ gặt hái được những thành công nhất
định.
Còn Vũ Lệ Hoa, Trường Đại học sư phạm Hà Nội trong bài viết Sử
dụng
phương pháp sư phạm tương tác - một biện pháp nâng cao tính tích cực
học
tập của học sinh đăng trên Tạp chí giáo dục (số 58, tháng 5/2003), cũng
đề
cập đến việc phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong học tập. Tác
giả
Vũ Lệ Hoa chỉ ra rằng với phương pháp sư phạm tương tác, mối quan hệ
giữa
ba yếu tố GV, HS và môi trường luôn tác động lẫn nhau, tạo nên một tập
hợp
liên kết chặt chẽ, quy định sự thành công của hoạt động dạy học. Trong
quá
4
trình dạy học sử dụng phương pháp tương tác, GV giữ vai trò là người
tổ
chức, hướng dẫn và điều khiển người học. GV là người xác định mục tiêu,
sắp
xếp nội dung và xây dựng môi trường cởi mở, tạo hứng thú cho người
học.
Người dạy biết can thiệp đúng lúc trên bước đường nhận thức của HS.
Còn
HS là chủ thể của hoạt động học, là người chịu trách nhiệm chính về việc
học.
Nếu HS được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách
nhiệm
cao và điều kiện thuận lợi, thì các em sẽ lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ
năng
một cách hứng thú và hiệu quả. Trong phương pháp sư phạm tương tác,
yếu
tố môi trường được coi như tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác động tới
hoạt
động dạy và học. Trong bài nghiên cứu này, tác giả Vũ Lệ Hoa còn đưa
ra
một số điều cần lưu ý khi thực hiện phương pháp sư phạm tương tác trong
dạy
học để mang lại hiệu quả cao, trong đó đáng chú ý nhất là GV cần phải
tổ
chức dạy học theo nhóm nhỏ nhằm thiết lập mối quan hệ tích cực giữa HS
với
nhau trong một môi trường thuận
lợi.
Cũng trong Tạp chí giáo dục (số 81, tháng 1/2004), Lê Văn Tạc,
Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục, cũng có bài nghiên cứu về vấn đề
học
hợp tác nhóm: Một số vấn đề về cơ sở lí luận học hợp tác nhóm. Trong đó,
tác
giả bàn luận về những cơ sở lí luận của vấn đề học hợp tác nhóm như:
khái
niệm hợp tác, học hợp tác nhóm và các nguyên tắc học hợp tác nhóm, các

sở lí thuyết của học hợp tác nhóm, những công việc mà GV cần thực
hiện
trong các giờ học hợp tác nhóm. Lê Văn Tạc khẳng định: “Học hợp tác
thực
sự là một cách dạy học có hiệu quả nhằm tăng cường tính tích cực của
trẻ”
[tr. 23;
33].
Và trong giáo trình Lí luận dạy học của Lê Phước Lộc (Đại học Cần
Thơ,
2004), phần nội dung giới thiệu về một số phương pháp dạy học thường
dùng,
tác giả có trình bày sáu vấn đề cơ bản cần phải nắm vững khi dạy học
theo
nhóm như: khái niệm về kiểu nhóm, sự khác nhau giữa dạy học theo nhóm

dạy học truyền thống, ưu việt của học theo nhóm hợp tác, một số kĩ năng
giao
tiếp, các kiểu học nhóm và cách tổ chức, một số kiểu nội dung bài học có
thể
tổ chức học hợp tác. Bài viết thể hiện sự đầu tư công phu qua nội dung
nghiên
cứu chắt lọc và hình thức trình bày có tính trực quan
cao.
Và quyển Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới của Thái
Duy
5
Tuyên, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, có bài viết Dạy học hợp tác nhóm. Ở
bài
viết này, tác giả khẳng định: Việc tổ chức học tập tập thể, học nhóm là hết
sức
quan trọng. Các em phải hợp tác với nhau, thầy trò phải hợp tác với nhau
để
hoàn thành nhiệm vụ học tập ngày càng nặng nề trong điều kiện hiện đại.
Dạy
học hợp tác nhóm có lịch sử tự lâu đời. Người khởi xướng hình thức dạy
học
này là nhà triết học cổ đại Socrate. Hình thức dạy học này có ưu điểm là tạo
ra
những thành công trong học tập; tăng cường khả năng tư duy phê phán;
tăng
cường thái độ tích cực với các môn học; nâng cao năng lực hợp tác giữa
các
HS với nhau; tạo ra tâm lí lành mạnh; phát triển và hòa nhập xã hội;
yêu
thương lẫn nhau; có trách nhiệm thích hợp. Và hình thức học hợp tác nhóm

đặc trưng chủ yếu là dùng hội thoại, tranh luận để tìm tòi, phát hiện chân
lí.
Điều này đưa người học đến chỗ tự phát hiện ra cái chưa biết và tự tìm cái
cần
biết. Ý nghĩa quan trọng của hình thức dạy học này là ở chỗ: người học
phải
cùng với người dạy làm chủ quá trình lĩnh hội tri thức, sau đó mới có được
tri
thức, tức là làm chủ được tri thức của bản thân. Đóng góp đáng ghi nhận ở
bài
viết là những suy tư khá sâu sắc của tác giả về vấn đề dạy học hợp tác
nhóm
như: những tính chất cơ bản của sự hợp tác học tập, quy trình tổ chức dạy
học
theo phương pháp hợp tác nhóm trong đó có những bước như thành lập
nhóm
học tập, giải thích mục tiêu và nhiệm vụ bài học cho HS, theo dõi và
điều
chỉnh tiến trình hợp tác nhóm, nhận xét tương tác nhóm. Qua kinh nghiệm
của
mình, Thái Duy Tuyên khẳng định: “dạy học hợp tác nhóm tại lớp đóng
vai
trò quan trọng trong cuộc sống con người. Nó quyết định sự thành bại
của
mỗi cá nhân trong xã hội” [tr. 411; 36]. Bên cạnh đó, tác giả cũng bàn
luận
thêm: “Rèn luyện các kĩ năng hợp tác ngay từ khi HS còn ngồi trên ghế
nhà
trường là rất quan trọng. Dạy các kĩ năng hợp tác cần được coi trọng
như
việc dạy kiến thức và kĩ năng cơ bản khác” [tr. 411;
36].
Như vậy, bài viết của tác giả Thái Duy Tuyên đã góp thêm tiếng nói
về
DHHT. Tác giả chỉ ra cụ thể cách thức tiến hành dạy học hợp tác nhóm
để
GV có thể áp dụng trong quá trình giảng
dạy.
Đó là một số tài liệu viết về dạy học hợp tác nói chung. Còn vấn đề
dạy
học hợp tác trong Ngữ văn thì sao? Có khá nhiều tài liệu về vấn đề
này.
Chúng tôi xin tóm lược nội dung của một vài tài liệu tiêu
biểu.
2.2 Hòa vào không khí đổi mới phương pháp giảng dạy chung của thế
giới,
6
quyển Literature Circles - Voice and Choice in Book Clubs and
reading
Groups của Harvey Daniels và các cộng sự (Tạm dịch: Vòng tròn thảo
luận
văn chương, người dịch Nguyễn Thị Hồng Nam, (2005), Đại học Cần Thơ),

tài liệu hữu ích cho việc dạy học tác phẩm văn chương theo hình thức hợp
tác
nhóm. Đây là một trong những quyển sách giới thiệu những phương pháp
dạy
học Ngữ văn tối ưu. Tác giả Harvey Daniels đã nêu ra hàng loạt
những
phương pháp dạy học tích cực, nâng cao hiệu quả học tập Ngữ văn. Trong
đó,
đóng góp đáng trân trọng của nhóm tác giả này là đã thiết kế được
những
Role Sheets để rèn luyện nhiều năng lực tư duy khác nhau và tạo ra sự
phụ
thuộc tích cực của các thành viên trong nhóm HS. Mỗi loại Role Sheets
tiêu
biểu
cho một loại tư duy mà người học thực sự phải làm khi khám phá,
chiếm
lĩnh
tác phẩm: người liên hệ, người hỏi, người phát hiện những điểm
sáng
thẩm
mĩ, người minh họa, người nghiên cứu, người tóm tắt, người làm
giàu
vốn
từ
Tác giả Harvey Daniels và các cộng sự còn nghiên cứu sự vận dụng
những
sáng tạo lí thuyết vào giảng dạy ở bậc THCS và THPT. Lí thuyết và kết
quả
vận dụng thực tiễn là những căn cứ tạo sức thuyết phục về kiểu dạy học
tác
phẩm theo hình thức vòng tròn thảo
luận.
Còn trong giáo trình Tổ chức hoạt động hợp tác trong dạy học Ngữ
văn
của Nguyễn Thị Hồng Nam, (2002) Đại học Cần Thơ, tác giả đã đề cập
khá
cụ thể, chi tiết về vấn đề dạy học nhóm ở nhiều phương diện: thế nào là
dạy
học theo hình thức TLN; loại hình nhóm; vai trò, nhiệm vụ của GV
trong
TLN; qui trình tổ chức quá trình TLN và tác dụng của TLN. Tác giả đã
trình
bày kết hợp lí thuyết với những ví dụ cụ thể trong thực tế giảng dạy phổ
thông
trung học và thăm dò khảo sát. Điều này làm cho giáo trình có giá trị thực
tiễn
và tính thuyết phục
cao.
Gần đây, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thu Hiền với đề tài Vận dụng
hình
thức thảo luận nhóm vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT Thới Bình -
Khảo
sát, đánh giá kết quả, 2007, bảo vệ tại trường Đại học Cần Thơ, đã đưa ra

thuyết chung về TLN, đặc biệt công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Thu
Hiền đã thiết kế bài tập nhóm cho hầu hết các tiết dạy ở Học kì I, lớp
10
(Chương trình cơ bản), tác giả luận văn cũng đã xây dựng những tiêu chí
đánh
7
giá hiệu quả dạy học theo hình thức TLN. Công trình nghiên cứu này quả

có giá trị thiết thực cho những GV quan tâm đến việc đổi mới phương
pháp
dạy học Ngữ
văn.
Vấn đề DHHT ngày càng được các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước
quan tâm nhưng sự vận dụng hình thức này vào thực tiễn dạy học Ngữ văn

Việt Nam còn quá khiêm tốn và chưa ngang tầm lí luận, bởi nhiều GV
chưa
vững về cách thức dạy học
này.
3. Mục đích nghiên
cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn hướng đến những mục đích
sau:
3.1 Tìm hiểu lý thuyết
DHHT.
3.2 Vận dụng lý thuyết DHHT vào việc thiết kế bài tập thảo luận sử dụng
cho
từng tiết
học.
3.3 Chứng minh hiệu quả của học hợp tác bằng thực
nghiệm.
4. Phạm vi nghiên
cứu
Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm ở lớp 10P, trường THPT chuyên

Tự Trọng - Thành phố Cần Thơ. Thực nghiệm ở tất cả các tiết (trừ những
tiết
hướng dẫn đọc thêm, các tiết viết bài tự luận và trả bài viết) từ tuần 2 đến
hết
năm học theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục - đào tạo dành cho
lớp
10, ban cơ bản. Để đảm bảo sự khách quan của phương pháp mới này,
chúng
tôi có hỏi ý kiến của bạn đồng nghiệp đã đi dự giờ và thăm dò ý kiến học
sinh
trong lớp thực nghiệm
10P.
5. Phương pháp nghiên
cứu
5.1 Phương pháp quan
sát
Trong các tiết TN, chúng tôi cũng tiến hành quan sát thái độ, tinh thần
làm
việc của HS qua việc ghi nhật kí lớp học, hoặc ghi âm, chụp ảnh một số
tiết
dạy (nhờ người chụp ảnh). Với việc quan sát như thế, chúng tôi sẽ hiểu rõ
hơn
hiệu quả giảng dạy của GV và học tập của HS, để từ đó có những đánh
giá
khách
quan.
5.2 Phương pháp thực
nghiệm
8
Nhằm soi sáng cho lí thuyết mà chúng tôi trình bày ở chương 1 Lý
thuyết
dạy học hợp tác, chúng tôi tiến hành TN ở lớp 10P trường THPT chuyên

Tự Trọng (cách thức, số tiết, tên lớp TN chúng tôi sẽ trình bày rõ ở
chương
2). Trước khi tiến hành TN, chúng tôi thiết kế giáo án cho từng tiết dạy, có
sử
dụng nhiều dạng bài tập như so sánh, phân tích, nhớ lại, ghép đôi,…, đặc
biệt
chú ý nhiều đến dạng sơ đồ, biểu bảng. Sau khi thiết kế xong, chúng tôi
tiến
hành TN giáo án đó. Trong quá trình TN, chúng tôi ghi lại hình ảnh,
âm
thanh, đồng thời tiến hành cho HS làm bài kiểm tra, phát phiếu thăm dò
ý
kiến HS để làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả
TN.
5.3 Phương pháp thống kê, xử lí số
liệu
Trong một số tiết dạy, chúng tôi sẽ cho HS làm bài kiểm tra ngắn. Sau
khi
thu lại tất cả các bài kiểm tra, phiếu bài tập, phiếu khảo sát của hai lớp
thực
nghiệm và đối chứng (ĐC), thông qua biên bản dự giờ, chúng tôi bắt
đầu
thống kê số lượng các câu hỏi, các bài kiểm tra của HS đạt được, thống kê
số
lượng bài HS đạt điểm theo các mức độ giỏi, khá, TB, yếu, kém hoặc TB,
trên
và dưới TB; thống kê số lượng HS có sự thay đổi theo các mục tiêu TN

phiếu khảo sát theo các mức 1, 2, 3, 4, 5 (tương ứng với mức độ tăng dần
về
hiệu quả TN) ở phiếu thăm dò Sau khi thống kê, chúng tôi tiến hành
nhập
và xử lí số liệu bằng cách dùng Excel vẽ sơ đồ, biểu bảng. Từ sự thống

này, chúng tôi sẽ thấy được kết quả giữa lớp có áp dụng và lớp không áp
dụng
phương pháp
DHHT.
5.4 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp
Thông qua bài kiểm tra, bài tập nhóm, bài tập về nhà, phiếu thăm dò ý
kiến
HS, nhật kí của GV, biên bản dự giờ, âm thanh, hình ảnh đã ghi được,
cùng
với số liệu thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích để đánh giá phương
pháp
dạy của GV, hoạt động học tập của HS; những kết quả đạt được, những
khó
khăn, hạn chế và giải pháp khi vận dụng phương pháp DHHT. Đồng thời,
so
sánh kết quả của các bài kiểm tra ở lớp TN và lớp ĐC để từ đó rút ra kết
luận:
DHHT có đem lại hiệu quả cao hơn so với hình thức dạy học truyền
thống
hay
không?
5.5 Phương pháp đánh
giá
9
Trong quá trình TN, chúng tôi có ghi lại âm thanh, hình ảnh, ghi nhật

các cuộc thảo luận nhóm ở một số tiết dạy, thu phiếu bài tập - kết quả
thảo
luận nhóm - của một số nhóm để làm bằng chứng. Trên cơ sở đó, chúng
tôi
xem xét lại việc vận dụng phương pháp DHHT có mang lại kết quả
hay
không, có giúp ích gì cho HS trong việc tư duy, giao tiếp, và có năng
động,
sáng tạo… hay
không.
6. Đóng góp mới của luận
văn
Việc vận dụng phương pháp DHHT vào thực tế giảng dạy chưa
nhiều.
Chúng tôi đã đọc được “Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà
trường
phổ thông”, 1997, (tập 1, 2) của tác giả Phan Trọng Luận, NXB Giáo
dục.
Những giáo án do tác giả Phan Trọng Luận thiết kế chủ yếu sử dụng
phương
pháp hỏi - đáp chứ chưa sử dụng hình thức thảo luận nhóm. Gần đây,
năm
2007, luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thu Hiền với đề tài “Vận
dụng
hình thức thảo luận nhóm vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT Thới Bình
-
Khảo sát, đánh giá kết quả” có sử dụng hình thức TLN cho một số giáo án

HKI, chương trình cơ bản. Với việc vận dụng phương pháp DHHT vào
giảng
dạy Ngữ văn lớp 10P ở trường THPT chuyên Lý Tự Trọng, luận văn

những đóng góp mới qua việc thiết kế bài tập thảo luận nhóm cho tất cả
các
bài học trong chương trình Ngữ văn lớp 10, ban cơ bản. Trong từng vấn đề
cụ
thể, luận văn ít nhiều đều có những đóng góp mới, khám phá mới, hoặc
bổ
sung làm sáng tỏ các vấn đề đã được người đi trước nêu ra nhưng chưa
đầy
đủ. Từ đó góp một phần công sức nhỏ vào quá trình đổi mới phương pháp
dạy
học Ngữ văn nói chung và dạy học Ngữ văn ở lớp 10 nói riêng. Qua đó,
thấy
được những ưu điểm và những khó khăn khi sử dụng phương pháp
DHHT
này. Từ thực tế TN ở lớp 10P, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp
để góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và phương pháp
giảng
dạy Ngữ văn nói
riêng.
7. Kết cấu của luận văn: 5
phần
- Phần 1: Mở đầu (10
trang).
- Phần 2: gồm 3
chương
Chương 1: Lý thuyết về dạy học hợp tác (23
trang).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét