Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

253306

PHẦN MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Lý luận, hình thái kinh tế - xã hội là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật
lịch sử do C. Mác xây dựng lên. Nó có vị trí quan trọng trong triết học Mác. Lý
luận đó đã được thừa nhận Lý luận khoa học và là phương pháp luận cơ bản
trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội. Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội,
lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên
trong, nội tại của sự phát triển xã hội, chỉ rõ được bản chất của từng chế độ xã
hội. Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đứng đắn và khoa học sự vận
hành của xã hội trong giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến trình vận
động lịch sử nối chung của xã hội loài người
Song, ngày nay. Đứng trước sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu, lý luận đó đang được phê phán từ nhiều phía. Sự phê phán đó không
phải từ phía kẻ thù của chủ nghĩa Mác mà còn cả một số người đã từng đi theo
chủ nghĩa Mác. Họ cho rằng lý luận, hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa
Mác đã lỗi thời trong thời đại ngày nay. Phải thay thế nó bằng một lý luận khác,
chẳng hạn như lý luận về các nền văn minh. Chính vì vậy làm rõ thực chất lý
luận hình thái kinh tế - xã hội, giá trị khoa học và tính thời đại của nó đang là
một đòi hỏi cấp thiết .
Về thực tiễn, Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đó đang đặt ra hàng loạt vấn đề đòi hỏi
các nhà khoa học trên các lĩnh vực khác nhau phải tập chung nghiên cứu giải
quyết. Trên cơ sở làm rõ giá trị khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội ,
việc vận dụng lý luận đóvào điều kiện Việt Nam; vạch ra những mối liên hệ hợp
quy luật và đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi công cuộc xây
dựng đất nước Việt Nam thành một nước giàu, mạnh, xã hội công bằng văn
minh cũng là một nhiệm vụ thực tiễn đang đặt ra.
1
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
a. Mục đích: Góp phần tìm hiểu giá trị khoa học của lý luận, hình thái kinh
tế - xã hội và việc vận dụng nó vào điều kiện nước ta hiện nay.
b. Nhiệm vụ: nêu rõ thực chất của lý luận hình thái kinh tế - xã hội và
chứng minh lý luận đó vẫn giữ nguyên giá trị.
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội, chứng minh công cuộc xây
dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một tất yếu khách
quan.
Phân tích thực tiễn xây dựng đất nước trong thời gian qua và qua các giải
pháp đưa công cuộc xây dựng đất nước đến thành công.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Chứng minh giá trị khoa học và tính thời đại của lý luận hình thái kinh tế -
xã hội.
2
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : NỘI DUNG CỦA LÝ LUẬN HÌNH THÁI
KINH TẾ - XÃ HỘI
1 -QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ VÀ HỌC THUYẾT HÌNH THÁI
KINH TẾ - XÃ HỘI.
Trước khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy tâm đã giữ vị trí thống trị
trong việc giải thích lịch sử. Không những các nhà triết học duy tâm mà ngay cả
những nhà tư tưởng tiên tiến trước Mác cũng đứng trên lập trường duy tâm để
giải thích các hiện tượng lịch sử xã hội.
Người ta xuất phát từ một sự thật là trong giới tự nhiên, thì lực lượng tự
nhiên hoạt động tự động, không có ý thức; còn trong xã hội, nhân tế hoạt động là
con người có lý tính, có ý thức và ý trí. Căn cứ vào sự thật ấy người ta đi đến kết
luận sai lầm rằng: Trong giới tự nhiên, thì tính quy luật, tính tất nhiên thống trị.
Sự thay đổi của ngày đêm, sự thay đổi của bốn mùa, sự biến hóa của khí hậu và
những hiện tượng không phụ thuộc vào ý và chí và ý thức của người ta, còn
những sự kiện lịch sử thì do hoạt động tự giác và ý chí của người ta, trước hết là
của những nhân vật lịch sử, những lãnh tụ, anh hùng quyết định ; ý chí của
người ta có thể thay đổi tiến trình lịch sử.
Chính vì vậy, đáng lẽ phải lấy sự phát triển của các điều kiện vật chất của
xã hội để giải thích lịch sự, động lực lịch sử, bản chất của con người; giải thích
tự nhiên xã hội, quân điểm chính trị, chế độ chính trị người ta lại đi từ ý thức
con người, từ những tư tưởng lý luận về chính trị, về triết học, pháp luật để
giải thích toàn bộ lịch sử xã hội. Nguyên nhân giải thích của sự duy tâm về lịch
sử chính là ở chỗ các nhà triết học trước kia đã coi ý thức xã hội để ra và quyết
dịnh tồn tại xã hội.
Quan điểm này có những thiếu sót căn bản như sau: Không vạch ra được
bản chất của các hiện tượng xã hội, nguyên nhân vật chất của những hiện tường
ấy.
3
Không tìm ra những quy luật phổ biến chi phối sự vận động và phát triển
của xã hội.
Không thấy vai trò quyết định của quân chúng nhân dân trong lịch sử.
Khác với các nhà triết học trước đây, khi nghiên cứu xã hội, C.Mác đã lấy
con người làm xuất phát điểm cho học thuyết của mình. Con người mà Mác
nghiên cứu không phải con người trừu tượng, con người biệt lập, cố định mà là
con người hiện thực đang sống và hoạt động, trước hết là hoạt động sản xuất, tái
sản xuất ra đời sống hiện thực của mình. Đó là con người cụ thể, con người của
tự nhiên và xã hội.
Bắt đầu từ việc nghiên cứu con người trong đời sỗng xã hội, ông nhận thấy
“ con người cần phải ăn, uống, ở và mặc, trước khi có thể lo đến việc làm
chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo ” (2)
Muốn vậy con người phải sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu của
chính mình. Sản xuất vật chất là một điều kiện cơ bản của mọi xã hội, là hành
động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng trăm năm trước đây người ta vẫn phải
tiến hành từng ngày, từng giờ cốt để duy trì cuộc sống của con người. Tuy nhiên
sản xuất của cải vật chất chí là yếu tố nền tảng của hoạt động sản xuất của con
người. để tồn tại và phát triển con người không ngừng hoạt động để sản xuất, tái
sản xuất ra: bản chất con người, các quan hệ xã hội và năng lực tinh thần, trí tuệ.
Mác chỉ rõ, trên cơ sở vật chất sản xuất vật chất, trên cơ sở tồn tại xã hội, con
người đã sản sinh ra ý thức như đạo đức, tôn giáo, hệ tư tưởng cũng như hình
thái ý thức khác.
Mác và Ăng-ghen đã nghiên cứu bản chất, gốc rễ của vấn đề, đồng thời
không hạ thấp vai trò của cá nhân trong lịch sử, không xem thường vai trò, tác
dụng của ý thức, ý trí, động cơ thúc đẩy họ. Nhưng các ông cũng lưu ý rằng bản
thân ý thức chúng không phải là nhưng nguyên nhân xuất phát, mà là những
nguyên nhân phát sinh của quá trình lịch sử, bản thân chúng cuối cùng cũng cần
được giải thích từ những điều kiện vật chất của đời sống.
4
Xã hội loài người là một hệ thống phức tạp về bản chất và cấu trúc. Việc
nghiên cứu vạch ra những quy luật chung nhất của toàn bộ xã hội chỉ có thể
được thực hiện trên cơ sở một hệ thống những phạm trù cho triết học duy vật về
lịch sử vạch ra để giải thích xã hội: tình thái kinh tế-xã hội sản xuất vật chất và
quan hệ sản xuất cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giai cấp và quan hệ giai
cấp, dân tộc và quan hệ dân tộc, cách màng xã hội, nhà nước và pháp luật, hình
thái ý thức xã hội,văn hoá, cá nhân và xã hội Như vậy, chủ nghĩa duy vật về
lịch sử là lý luậnvà phương pháp dễ nhận thức xã hội. Nó vừa cung cấp trí thức,
vừa cung cấp phương pháp hoạt động nhằm tìm kiếm tri thức mới cho các khoa
học xã hội cụ thể. Nó giúp chúng ta xác định đúng vị trí của mỗi hiện tượng xã
hội, xuất phát từ cách giải quyết đúng đắn vấn đề bản của triết học trong lĩnh
vực xã hội, thấy được sự tác động biện chứng giữa tính quy luật và tính ngẫu
nhiên trong lịch sử, giữa nhân tố khách quan nhân tố chủ quan, giữa hiện tượng
kinh tế và hiện tượng chính trị Nó đem lại quan hệ về sự thống nhất trong toàn
bộ tính đa dạng phong phú của đời sống xã hội.
Việc áp dụng triệt để chủ nghĩa duy vật biện chứng vào việc xem xét các
hiện tượng xã hội, theo Lê Nin đã khắc phục được những khuyết điểm căn bản
của các lý luận lịch sử trước đây. Cũng từ đây mọi hiện tượng xã hội, cũng như
bản thân phát triển của xã hội loài người được nghiên cứu trên một cơ sở lý luận
khoa học.
Thực chất của quan niệm duy vật lịch sử có thể tốm tắt như sau:
1. Tồn tại một xã hội quyết định ý thức xã hội, phương thức sản xuất
vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung.
2. Trong sản xuất con người có những quan hệ nhất định gọi là quan
hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Các lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ mâu
thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất đã có. Từ chỗ là hình thức phát triển lực
5
lượng sản xuất, các ấy lại kìm hãm sự phát triển của chúng khi đó sẽ xảy ra cách
mạng xã hội thay thế xã hội này bằng một xã hội khác.
3. Toàn bộ quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội hay
cơ sở hạ tầng trên đó xây dựng một kiến trúc thượng tầng khi cơ sở hạ tầng thay
đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi ít nhiều nhanh chóng.
4. Sự phát triển của xã hội là sự thay thế hình thái kinh tế-xã hội thấp
bằng hình thái kinh tế xã hội cao hơn.
Trong những kết luận trên cần nhấn mạnh thêm rằng ý thức xã hội, kiến
trúc thượng tầng thuộc vào 7 xã hội, vào cơ sở hạ tầng song chúng có tính độc
lập tương đối và có tác động trở lại đối với tồn tại xã hội và cơ sở hạ tầng.
Trong quan niệm duy vật về lịch sử thì học thuyết về hình thái kinh tế-xã
hội có một vị trí đặc biệt.
Nó chỉ ra con đường phát triển có tính quy luật của xã hội loài người. Sự
phát triển của xã hội loài người ; là sự thay thế những hình thái kinh tế xã hội
cao hơn. Sự phát triển ấy không phải diễn ra một cách tuỳ tiện mà diễn ra theo
các quy luật kháh quan, theo con đường lịch sử tự nhiên.
1.2) CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CẤU THÀNH MỘT HÌNH THÁI
KINH TẾ XÃ HỘI.
Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, quyết định sự tồn tại và
phát triển của xã hội, cho lên xuất phát từ con người hiện thực, trước hết phải
xuất pháttừ sản xuất để đi tới các mặt khác của xã hội, tìm ra các quy luật vận
động phát triển khach quan của xã hội. Mác đã phát hiện ra trong sản xuất có
hai mặt không thể tách rời nhau. Một mặt, là quan hệ giữa người với tự nhiên,
mặt khác là quan hệ giữa người với người.
Quan hệ giữa người với tự nhiên đó là lực lượng sản xuất biểu hiện quan
hệ giữa người với tự nhiên. Trình độ của lực lượng thể hiện trình độ chinh phục
tự nhiên của loài người.
Lực lượng sản xuất bao gồm:
6
- Người lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động,
biết sử dụng tư liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
* Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.
* Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong tư
liệu lao động có công cụ lao động và những tư liệu lao động khác cần thiết cho
việc vận chuyển bảo quản sản phẩm
* Đối tượng lao động bao gồm bộ phận của giới tự nhiên được đưa vào
sản xuất. Thí dụ đất canh tác, nguồn nước Con người không chỉ tìm trong
giới tự nhiên những đối tượng có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng
lao động. Sự phát triển của sản xuất có liên quan tới việc đưa những đối tượng
ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất.
* Điều đó hoàn toàn có tính quy luật bởi những vật liệu mới mở rộng khả
năng sản xuất của con người.
*Tư liệu lao động là vật hay là phức hợp vật thể mà con người đặt giữa
mình với đối tượng lao động, chúng dẫn chuyền tác động của con người với đối
tượng lao động. Đối tượng lao động và tư liệu lao động là những yếu tố vật
chất củat quá trình lao động sản xuất hợp thành tư liệu sản xuất mới.
* Trong tư liệu lao động công cụ lao động là hệ thống xương cốt, bắp thịt
của sản xuất và là tiên chí quan trọng nhất, trong quan hệ xã hội với giới tự
nhiên. Cùng với sự cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động thì kinh nghiệm sản
xuất của loài người cũng được phát triển và phong phú thêm, những nghành
sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động phát triển. Trình độ phát triển tư
liệu sản xuất mà chủ yếu là công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự
nhiên của loài người, là cơ sở xác định trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế theo
Mác.
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất bằng
cách nào”. Đối với mỗi thế hệ, những tư liệu lao động do thế hệ trước để lại,
trở thành điểm xuất phát của sự phát triển tương lai. Nhưng những tư liệu lao
7
động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi chúng kết
hợp với lao động sống. Tư liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu, nhưng
nếu tách khỏi người lao động thì cũng không phát huy được tác dụng không thể
trở thành lực lựơng sản xuất của xã hội. Con người khônh chỉ đơn thuần chịu
sự quy dịnh khách quan của điều kiện lịch sử mà nó còn là chủ thể tích cực tác
dụng cải tạo điêù kiện sống.Họ không chỉ sử dụng những công cụ lao động
hiện đại có mà còn sáng chế ra những công cụ lao động mới.
Năng suất lao động là thước đo trình độ phát triển của lưc lượng lao động
sản xuất đồng thời xét cùng nó là nhân tố quan trọng nhất cho sự thắng lợi của
một trật tự xã hội mới.
Mặt thứ hai của quá trình sản xuất là mối quan hệ giữa người với người
gọi là quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ cơ bản của một hình thái kinh tế xã hội.
Mỗi kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho sản xuất kinh tế xã hội nhất định.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đây.
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
- Quan hệ quản lý và phân công lao động.
- Quan hệ phân phối sản xuất lao động;.
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau không tách rời nhau, trong
đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tất cả
những quan hệ khác. Bản chất của bát kỳ quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ
thuộc vào vấn đề những tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội được giải quyết
như thế nào.
Mỗi quan hệ sản xuất có một chế độ quản lý sản xuất riêng. Chế độ sở
hữu về tư liệu sản xuất như thế nào thì chế độ quản lý sản xuất cũng như thế
ấy. Trong chế độ chiếm hữu tư nhân thì người chiếm hữu tư liệu sản xuất trở
thành kẻ quản lý sản xuất, con người lao động không có tư liệu sản xuất trở
thành người bị quản lý. Còn trong chế độ quản lý xã hội thì người lao động
8
được đặt vào trong các mối quan hệ sở hữu và quản lý một cách trực tiếp đồng
thời có cơ chế bảo đảm hiệu quả quyền lực của nhân dân.
Trên cơ sở nghiên cứu, hai mặt của quá trình sản xuất Mác- Anghen đưa
ra khái niệm mới là “Phương thức sản xuất”. Theo 2 ông thì “một hình thức
hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự biểu
hiện đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định”.
C.Mác đã nêu phát hiện mới về mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản
xuất và sự phát triển của lực lượng sản xuất trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã
hội lực lượng sản xuất quyết định “hình thức giao tiếp tới một giai đoạn nhất
định, trong sự phát triển của chúng, các lực lượng sản xuất giữa mâu thuẫn với
“hình thức giao tiếp” hiện tại. Mâu thuẫn này được giải quyết bằng một cuộc
cách mạng xã hội. Về sau “hình thức giao tiếp” mới đến lượt nó lại không phù
hợp với các lực lượng sản xuất đang phát triểt, lại biến thành sản xuất “xiềng
xích” trói buộc lượng sản xuất và bằng con đường cách mạng xã hội “hình thức
giao tiếp” đã lỗi thời, lạc hậu.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hợp thành những quan hệ vật
chất của xã hội. Ngoài những quan hệ vật chất trong đời sống xãhội con tồn tại
các quan hệ tinh thần, tư tưởng. Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu mối quan
hệ vât chất trong đời sống xã hộicòn tồn tại các quan hệ tinh thần, tư tưởng .Do
vậy chúng ta cần phải nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là toán bộ những quan hê sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
của một hình thái kinh tế xã hội nhất định .
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể đao gồm những quan hệ sản xuất
thống trị, quan hệ sản xuất tồn dư của xã hội trước và quan hệ sản xuất là mầm
mống của xã hội sau. Những đặc trưng do tính chất của cơ sở hạ tầng là do
quan hệ sản xuốt thống trị quy định. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tính
chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định.
9
Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong
cơ sở hạ tầng.
Kiến trúc thượng tầng bao gồm:
Những tư tưởng chính trị , pháp luật, triết học , đạo đức, tôn giáo, nghệ
thuật.
Những tổ chức và thiết chế khác (nhà nước, chính đáng, giáo hội, các
đoàn thể )
Như vậy, kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những
thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của chúng hình thành trên một cơ
sở hạ tầng nhất định.
Các yếu tố kiến trúc thượng tầng tác động qua lại lẫn nhau và đều nảy
sinh trên cơ sở hạ tầng. Trong đó các tổ chức chính trị, pháp luật có liên hệ trực
tiếp với cơ sở hạ tầng, còn các yếu tố triết học, nghệ thuật, tôn giáo, chỉ có
quan hệ gián tiếp với nó.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệ
đối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính chất đối kháng. Phản ánh
tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng biểu hiện ở sự sung đột và cuộc đấu tranh
tư tưởng của các giai cấp đối kháng.
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng biểu
hiện:
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện
trước hết ở chỗ quan hệ sản xuất nào thống trị thì tạo ra kiến trúc thượng tầng
tương ứng; giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về tinh thần thì cũng chiếm địa
vị trong đời sống xã hội. Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất
mâu thuẫn trong vấn đề tư tưởng. Cuộc sống đấu tranh trong lĩnh vực chính trị,
tư tưởng là biểu hiện của những mâu thuẫn đối kháng trong lĩnh vực kinh tế, và
khiến những biến đổi hạ tầng. Sự biến đổi đó diễn ra trong hình thái cũng như
di chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp sự biến đổi đó diễn ra theo cuộc đấu tranh
10
giai cấp gay go phức tạp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị khi cách mạng
xã hội bỏ qua xoá bỏ cơ sở hạ tầng cũng thay thế băngf cơ sở hạ tầng mới thì
thống trị giai cấp thống trị xoá bỏ và được thay thế bằng giai cấp thống trị mới,
bộ máy nhà nước được hình thành thay thế bộ máy nhà nước cũ đồng thời bộ
máy nhà nước mới được hình thành. Cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì kiến trúc
thượng tầng của nó với tính cách là một chỉnh thể thống trị cũng mất theo Song
cũng có những nhân tố riêng lẻ của kiến trúc thượng tầng ấy còn tồn tại rất dai
dẳng sau khi cơ sở kinh tế sinh ra nó đã bị tiêu diệt. Cũng có yếu tố nào đó của
kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp cầm quyền mới duy trì lại xây dựng
kiến trúc thượng tầng mới. Như vậy, sự hình thành và phát triển của kiến trúc
thượng tầng do cơ hạ tầng quyết định, đồng thời nó còn có quan hệ kế thừa đối
với các yếu tố của kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ . Tính quyết định của cơ
sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong quá trình
chuyển từ một hình thái kinh tế xã hội này sang một hình thái kinh tế xã hội
khác .
Mặt khác, kiến trúc thượng tầng luôn là lực lượng tác động mạnh mẽ trên
toàn bộ các mặt của đời sống xã hội, và tác động tích cực lại cơ sở hạ tầng sinh
ra nó . Điều đó thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo vệ
và duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ. Kiến trúc thượng tầng có tác dụng to
lớn đối với cơ sở hạ tầng khi nó tác động cùng chiều với quy luật vận động của
cơ sở hạ tầng, trái lại khi nó tác động ngược lại với quy luật kinh tế khách quan
nó sẽ cản trở sự phát triển của cơ sở hạ tàng. Những tác dụng kìm hãm sự phát
triển của kinh tế tiến bộ xã hội của nó chỉ tạm thời, sớm muộn sẽ bị cách mạng
khuất phục. Quá nhấn mạnh hoặc thổi phồng vai trò của kiến trúc thượng tầng
hoặc phủ nhận tất yếu của kinh tế xã hội, sẽ không tránh khỏi ra vào của chủ
nghĩa duy tâm khách quan, và không thể nhận thức đúng đắn sự phát triển của
lịch sử.
11
Tóm lại, khi xem xét xã hội với tư cách là một chỉnh thể toàn vẹn có cấu
trúc phức tạp C.Mác & Ph.Anghen đề cập đến 3 yếu tố cơ bản nhất của nó là
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng mỗt mặt đó có
vai trò nhất định và tác động đến mặt khác tạo lên sự vận động của cơ thể xã
hội. Mối quan hệ giữa các nhân tố trên đây được phản ánh vào khái niệm học
thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những
quan hệ sản xuất của nó thích ứng với lực lượng sản xuất ở trình độ nhất định
và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất
đó .
Lý luận hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa duy vật, lịch sử chỉ rõ kết
cấu cơ bản và phổ biến của xã hội bao gồm lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng, chỉ rõ cơ thể vận động xã hội chính là sự hoạt
động của quy luật về sự phù hợp của các quan hệ sản xuất với tính chất còn
trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc
thượng tầng, và các quy luật khác. Chính do sự tác động của các quy luật khách
quan đó mà nguồn gốc sâu xa là sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho
hình thái kinh tế xã dược thay thế bằng hình thế kinh tế xã hội cao hơn. Sự thế
nhận từ thấp đến cao của hình thái kinhtế xã hội cao hơn diễn ra như một quá
trình tự nhiên
1.3. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI LÀ
MỘT QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỰ NHIÊN.
Mác viết “ tôi coi sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên ”. sau này Lê-nin cũng khẳng định quan điểm trên đây
của Mac khi viết:
“Chỉ có những quan điểm xã hội và những quan hệ sản xuất và đem quy
những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lưc lượng sản xuất thì người ta
12
mới có được cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái
kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên .
Quá trình lịch sử tự nhiên có nguồn gốc sâu xa ở sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Những lực lượng sản xuất có được bằng tạo ra năng lực thực
tiễn của con người song không phải con người làm theo ý muốn chủ quan mà
dựa trên những lực sản xuất đã đạt do thế hệ trước tạo ra. Chính tính chất trình
độ sản xuất đã quy định một cách khách quan hình thức của quan hệ sản xuất
quyết định quá trình vận động và phát triển của hình thái kinh tế xã hội như
một quá trình lịch sử tự nhiên.
Trong các quy luật khách quan chi phối sự hoạt động, phát triển của hình
thái kinh tế xã hội theo quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quan trọng nhất, có vai trò
quyết định nhất. Một mặt của phương thức sản xuất lực lượng sản xuất là yếu
tố đảm bảo tính kế thừa trong sự phát triể tiến lên của xã hội, quy định phương
hướng sản xuất từ thấp đến cao. Mặt thứ hai của phương thức sản xuất - quan
hệ sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sản xuất phát triển của lịch sử.
Những quan hệ sản xuất lỗi thời được xoá bỏ và thay thế bằng những kiểu quan
hệ sản xuất mới cao hơn và hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn ra đời. Như
vậy, sự xuất hiện, phát triển của hình thái kinh tế xã hội, sự chuyển biến từ hình
thái này sang hình thái khác cao hơn được giải thích trước hết bằng sự tác động
của quy luật trên. Đó là khuynh hướng tự tìm đường cho mình phát triển và
thay thế của các hình thái kinh tế xã hội.
13
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ
HỘI VÀO ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1. TÍNH TẤT YẾU CỦA CON ĐƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN.
Nước ta là nước lạc hậu về kinh tế lại bị đế quốc thực dân thống trị một
thời gian dài cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo và lạc hậu .
Đảng ta khẳng định sau khi Việt Nam tiến hành công cuộc cách màng xã
hội chủ nghĩa , xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước chưa trải qua thời kỳ
phát triển tư bản chủ nghĩa bỏ qua chủ nghĩa tư bản sự lựa chọn trên 2 căn cứ
sau đây.
Một là, chỉ có CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động thoát khỏi
áp bức, bóc lột bất công đem lại cuộc sống ấm lo hạnh phúc cho nhân dân
Hai là, thắng lợi của cuộc cách mạng thắng lợi Nga năm 1971 đã mở ra
một thời đại mới, tạo khả năng thực hiện cho các dân tộc lạc hậu tiến lên con
đường CNXH.
Sự lựa chọn ấy không mâu thuẫn với quá trình phát triển lịch sử tợ nhiên
của XHCN, không mâu thuẫn với hình thái kinh tế xã hội củ chủ nghĩa Mác
Lê-nin sự lựa chọn CNXH là một sự lựa chọn của chính dân tộc Việt Nam.
Trong điều kiện cụ thể sự lựa chọn ấy chính là sự lựa chọn con đường rút ngắn
bỏ qua chế độ TBCN, là quy luật tiến hóa của lịch sử, là xu thế phát triển của
lịch sử.
Con đường CNXH cho phép chúng ta có thể phát triển nhanh lực lượng
sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã
hội phát triển xã hội theo chiều hướng tiến bộ vừa có thể tránh cho xã hội và
nhân dân lao động phải trả giá cho các vấn đề của xã hội tư bản mà trước hết là
chế độ người bóc lột người, là quan hệ bất bình đẳng người với người.
2.2.THỰC TIỄN VỀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM.
14

Xem chi tiết: 253306


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét