nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào. Có nhu cầu vốn, có nguốn cung cấp từ đó làm
xuất hiện những dòng vốn qua lại giữa các quốc gia. Các dòng vốn di chuyển
tuân theo đúng qui luật từ nơi nhiều đến nơi ít một cách khách quan, do vậy
hoạt động đấu t ra nớc ngoài mang tính tất yếu khách quan.
Ngày nay, hoạt động đầu t nớc ngoài diễn ra một cách sôi nổi và rộng khắp
trên toàn cầu. Các luồng vốn đầu t không chỉ di chuyển từ các nớc phát triển,
nơi nhiều vốn sang các nớc đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có sự giao lu
giữa các quốc gia phát triển vơi nhau. Hiện tợng này xuất phát từ những nguyên
nhân sau:
Thứ nhất, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh
chóng với qui mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trờng toàn
cầu trong đó tính phụ thuộc lãn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia ngày
càng tăng. Quá trìng này diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh đã chi
phối thế giới trong nửa thế kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quốc gia đều
theo xu hớng mở cửa và theo quĩ đạo của kinh tế thị trờng, bằng chứng là phần
lớn các quốc gia đã gia nhập tổ chức thơng mại thế giới (WTO), chấp nhận xu
hớng tự do hoá thơng mại và đầu t. Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất,
khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên, mức độ chi phí
sản xuất ở các nớc khác nhau thì nguồn vốn đầu t nớc ngoài sẽ tuân theo
những qui luật của thị trờng vốn là chảy từ nơi thiều đến nơi thiếu vốn với mục
tiêu lợi nhuận.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đã tạo nên sự biến đổi
nhanh chóng và kì diệu của sản xuất. Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng
dụng vào sản xuất rất ngắn, chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn lại, sản
phẩm hàng hoá phong phú và đa dạng hơn. Đối với doanh ngiệp, nghiên cứu và
đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại và phát triển. Còn đối với các
quốc gia thì việc làm chủ và đi đầu trong khoa học - công nghệ sẽ quyết định vị
trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc vào các nớc khác trong tơng lai. Chính vì
vậy, cuộc đua giữa các quốc gia đặc biệt là các nớc phát triển bên thềm thế kỷ
XXI diễn ra ngày càng quyết liệt. Bên cạnh đó, sự hát triển một cách nhanh
5
chóng của cách mạng thông tin, bu chính viễn thông, phơng tiện giao thông vận
tải đã khắc phục sự xa cách về không gian, giúp các chủ đầu t thu thập xử lý
thông tin kịp thời, đa ra những quyết định đầu t, điều hành sản xuất kinh doanh
đúng đắn mặc dù ở xa hàng vạn km. Những điều này đã tạo nên một sự dịch
chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng qui mô để chuyển vốn giữa các quốc
gia, mở rộng qui mô để chuyển vốn trên toàn cầu đến các địa chỉ đầu t hấp dẫn.
Tại các nớc công nghiệp phát triển, khi trình độ kinh tế phát triển ở mức
cao đã góp phần nâng cao mức sống và khả năng tích luỹ vốn của các nớc này.
Điều đó, một mặt đẫn đến hiện tợng thừa tơng đối vốn ở trong nớc, mặt khác
làm cho chi phí tiền lơng cao, nguồn tài nguyên thu hẹp và chi phí khai thác
tăng đẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm đần, sức cạnh
tranh trên thị trờng yếu. Chính vì lẽ đó, các nhà đầu t trong nớc tìm kiếm cơ hội
đầu t ở nớc ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm thị trờng mới, nguồn
nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao.
Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế giữa các nớc công nghiệp phát triển và
các nớc đang phát triển ngaỳ càng giãn cách nhng sự phát triển của một nền
kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nớc phát triển không
chỉ tìm thấy ở các nớc đang phát triển những cơ hội đầu t hấp dẩn do chi sản
xuất giảm, lợi nhuận cao, thuận lợi trong việc dịch chuyển thiết bị, công nghệ
lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vợng của các nớc này sẽ nâng cao sức mua và
mở rộng thị trờng tiêu thụ sản phẩm. Ngợc lại, các nớc đang phát triển cũng
đang trông chờ và mong muốn thu hút đợc vốn đầu t, công nghệ của các nớc
phát triển để thực hiện công nghiệp hoá, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng
xa.
b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài tại
Việt Nam.
Ngày nay xu hớng quốc tế hoá toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh
mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế tác động, bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau. Các
quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế, chuyên môn
hoá, hợp tác hoá nhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản lý của nhau.
6
Xuất phát điểm của nớc ta là một nớc nông nghiệp lạc hậu. Hơn 70% dân
số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, trình độ kỹ
thuật thấp, tích luỹ nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nớc ngoài không có hiệu quả.
Ngoài ra, nớc ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên những tàn d
mà ta cha khắc phục đợc còn nhiều: cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống nhân dân
còn khó khăn, chính sách cha đồng bộ Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của chúng
ta hiện nay là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân, xây
dựng cơ sở hạ tầng. Để thực hiện điều đó thì chúng ta cần một lợng vốn rất lớn.
Trong điều kiện khả năng đáp ứng của nền kinh tế là có hạn thì chúng ta không
còn con đuờng nào khác là thu hút sự hợp tác đầu t của nớc ngoài. Để thực hiện
điều đó, tại đại hội VI (12/1986), Đảng và Nhà nớc đã chủ trơng mở cửa nền
kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng những khả năng
to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng thị trờng, chuyển giao
công nghệ và kinh nghiệm để bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và
nguồn lực trong nớc. Đảng chủ trơng Đa phơng hoá và đa dạng hoá quan hệ
kinh tế đối ngoại với quan điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc
trên thế giới. Tại đại hội VIII, Đảng chủ trơng Vốn trong nớc là chính, vốn n-
ớc ngoài cũng quan trọng. Tất cả những t tởng đổi mới của Đảng và Nhà nớc
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt
động đầu t nớc ngoài nói riêng.
Nh vậy, quá trình thu hút đầu t nớc ngoài vào Việt Nam là một xu thế tất
yếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt
Nam.
4. Tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với các
nớc đang phát triển.
Nguồn vốn đầu t trc tiếp nớc ngoài có tác động không nhỏ đối với các nớc
nhận đầu t, đặc biệt các nớc phát triển trên cả hai mặt ; tích cực và tiêu cực
a. Tác đông tích cực .
7
Thứ nhất, nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã bổ xung một nguồn quan
trọng
Bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu t cho phát triển kinh tế ở các nớc đang phát
triển.
Thứ hai, đầu t trực tiếp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Để tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
phân công lao động quốc tế , thu hút ngày càng nhiều vốn đầu t nớc ngoài đòi
hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù hợp. Mặt khác,
sự gia tăng của hoạt động đầu t nớc ngoài làm xuất hiện nhiều ngàng mới, lĩnh
vực mới
Góp phần thúc đẩy sự phát tiển nhanh chóng trình độ kĩ thuật-công nghệ
của nhiều ngành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động ở các ngành
này và tăng tỷ phần của nó trong nên kinh tế. Nhiều ngành đợc kích thích phát
triển còn nhiều ngành bị mai một và đi đến xoá sổ.
Thứ ba, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã góp phần phát triển nguồn
nhân lực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho ngời lao động. Các dự án đầu t trực
tiếp nớc ngoài thờng đòi hỏi nguồn lao động có chất lợng cao do đó sự gia tăng
các dự án đầu t nớc ngoài đã đặt ở các nớc sở tại trớc yêu cầu khách quan là
phải nâng cao chất lợng, trình độ chuyên môn kỹ thuật , trình độ ngoại ngữ
cho ngời lao động.
Thứ t, hoạt động của các dự án đầu t nớc ngoài đã góp phần tăng tỷ trọng
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nớc .
Thứ năm, đầu t trực tiêp nớc ngoài thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế ở các
quốc gia này. Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nớc ngoài, các nớc đang
phát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lợc phát triển kinh
tế nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự
nghèo đói.
b. Tác động tiêu cực.
Bên cạnh những u điểm trên, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài còn bộc
lộ nhiều mặt hạn chế.
8
Một là, đầu t nơc ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí. Mục đích của các
nhà đầu t nớc ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu
đâù t vào các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao.
Hai là, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài mang lại hiện tợng chảy máu
chất xám. Các nhà đầu t nớc ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu nhập, việc
làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu,
công nhân lành nghề của nớc ta về làm việc cho họ.
Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dới sự tác động của cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu- ứng dụng ngày càng đợc rút
ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu. Để loại bỏ chúng, nhiều
nhà đầu t đã cho chuyển giao sang các nớc nhận đầu t nh một phần vốn góp .
Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nớc nhận đầu t ngày càng
lạc hậu.
Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài lớn. Các nớc
nhận đầu t đã phải áp dụng nhiều u đãi cho các nhà đầu t nớc ngoài nh: giảm
thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xởng
Năm là, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong nớc. Với u thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu t nớc ngoài
đã đặt các doanh nghiệp trong nớc vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị tr-
ờng, lao động và các nguồn lực khác.
Sáu là, các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu t trực tiép nớc ngoài còn
có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâm
nhập vào nớc ta.
5. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng thu hút vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Đầu t nớc ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn đối với các nớc
trên thế giới, đặc biệt là các nớc đang phát triển. Tuy thế, việc thu hút vốn đầu
t trực tiếp nớc ngoài lại chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách
quan.
5.1 Luật đầu t.
9
Nhân tố này sẽ kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của hoạt dộng đầu t
trực tiếp nớc ngoài thông qua cơ chế, chính sách, thủ tục, u đãi, đợc qui định
trong luật.
5.2. Ôn định chính trị.
Đây là nhân tố không thể xem thờng bởi vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt
hại lớn cho các nhà đầu t nớc ngoài.
5.3. Cơ sở hạ tầng.
Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng nh giao thông, vận tải, thông tin
liên lạc, điện nớc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án đầu
t trực tiếp nớc ngoài.
5.4. Đặc điểm thị trờng của nớc nhận vốn.
Đây có thể nói là yếu tố hàng đầu ảnh hởng đến việc thu hút vốn đầu t nớc
ngoài. Nó đợc thể hiện ở qui mô, dung lợng của thị trờng, sức mua của các tầng
lớp dân c trong nớc, khả năng mở rộng qui mô đầu t , đặc biệt là sự hoạt động
của thị trờng nhân lực. Mặt khác, với giá nhân công rẻ sẽ là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà đầu t nớc ngoài, nhất là với những dự án đầu t vào lĩnh vực sử
dụng nhiều lao động. Ngoài ra trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn,
khả năng quản lý cũng có ý nghĩa nhất định. Bởi vậy, lợi thế về thị trờng sẽ có
sức hút rất lớn đối với vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
5.5. Khả năng hồi hơng của vốn
Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hởng không nhỏ tơi khả năng
thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài nếu vốn và lợi nhuận đợc tự do qua lại biên
giới.
5.6. Chính sách tiền tệ.
Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở nớc
nhận vốn đầu t là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các
nhà đầu t. Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hởng tới hoạt động xuất nhập
khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hởng trực tiếp đến chi phí sản
xuất, lợi nhuận thu đợc của các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm cao.
5.7. Các chính sách kinh tế vĩ mô.
10
Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của
các nhà đầu t nớc ngoài. Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát có
thể làm các nhà đầu t nản lòng khi đầu t vào các nớc này. Một chính sách thơng
mại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thơng mại sẽ kích
thích hoặc hạn chế đến việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoaì.
Ngoài ra, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài còn chịu ảnh hởng của nhiều
nhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền sở
hữu
Vì vậy, để hoạt động thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài diễn ra một cách
thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hởng của các nhân tố trên
trong mối quan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trờng đầu t trong
nứơc.
11
Phần II
Tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài tại việt nam từ 1988 đến đầu 2000
1. thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu t trực tiếp
nớc ngoài tại việt nam từ 1988 đến đầu năm 2000.
Kể từ bắt đầu cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc nhiều
thành tựu to lớn: tốc độ tăng trởng kinh tế liên tục cao và ổn định trong nhiều
năm (bình quân thời kì 1991-1995 là 8,1%/năm , năm 1996 là 9,3%/năm, năm
1997 là 8,15%/năm), cơ cấu kinh tế đang từng bớc chuyển dịchtheo hớng công
nghiệp hoá -hiện đại hoá, đời sống cùa ngời dân ngày càng đợc nâng cao cả về
vật chất và tinh thần, xã hội đang từng ngày thay đổi. Tất cả những thành tựu
trên cho thấy nền kinh tế nớc ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và đang
từng bớc tiến vào thơì kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Một trong những nguyên nhân của thành tựu đó làchủ trơng mới của Đảng
về hoạt động kinh tế đối ngoại, trong đó có hoạt động thu hút vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài vào Việt Nam. Qua hơn mời năm, kể từ khi có luật đầu t nớc
ngoài vào Việt Nam (12/1987) đến hết năm 1999, nớc ta đã cấp giấy phép cho
280 dự án đầu t nớc ngoài với tổng vốn đăng ký 36880 tr.USD.
Biểu đồ: vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam (1988 - 1999)
12
Nguồn tổng hợp từ:
Đầu t nớc ngoài 1988 -1997: Đánh giá tổng _Nguyễn Mại _ Tạp chí
cộng sản số 2/1998 trang 22
vài nét về đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam _PTS. Phạm thị Thi
_châu mỹ ngày náy số 2/1997 trang 24.
Tình hình thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam sau khủng
hoảng kinh tế châu á: Vấn đề và giải pháp _ Phạm thi Tuý _kinh tế châu á
-Thái Bình Dơng số 2 tháng 6/1999 trang 9.
Qúa trình thu hút vốn đầu t và sử dụng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoái vào
Việt Nam đợc chia làm ba thời kì:
a. Thời kì 1988-1990.
Đây đợc coi là thời kì khơi động cho qúa trình thu hút vốn đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam.
Ngày 19/12/1987, nớc ta đã chính thức ban hành luật đầu t nớc ngoài vàp
Việt Nam, khủng hoảng pháp lý quản lý và điều chỉnh hoạt động đầu t trực tiếp
nớc ngoài tại Việt Nam. Năm 1988, năm đầu tiên thực hiện luật đầu t nớc
ngoài, chúng ta đã cấp giấi phép đầu t cho 37 dự án với tổng vốn đăng ký là 336
tr. USD. Kết quả đó tuy nhỏ nhng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nớc ta. Nó
đánh dấu sự thành công ban đầu của công cuộc đổi mới, mở cữa nền kinh tế,
thực hiện đờng lối mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và
Nhà nớc ta.
13
Sau ba năm tiến hành thu hút vốn đâu t trực tiếp nớc ngoài, chúng ta đã
cấp giấy phép cho 218 dự án với tổng vốn đăng ký 1417 tr. USD. Tốc độ tăng
trởng hàng năm đạt 255/năm. Quy mô mổi dự án đạt khoảng 7tr.USD/dự án.
lĩnh vực đầu t chủ yếu trong thời kì này là thăm dò dầu khí 32,2%, khách sạn
20,6% và bu chính viễn thông, còn các lĩnh vực khác thì rất íthầu nh cha đợc
triển khai. Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt 40tr.USD băng 27%tổng
vốn đăng kí.
Nguyên nhân của việc gia tăng vốn đầu t chậm do đây là một lĩnh vực còn
rất mới đối với nớc ta, chúng ta "vữa học, vừa làm", kinh nghiệm cha có nhiều.
Mặt khác, đối với các nhà đầu t nớc ngoài, nớc ta là một thị trờng mới mẻ vừa
xa lạ, vừa hấp dẩn do đó họ thận trọng không dám mạo hiểm, vừa làm vừa thăm
dò.
Tuy thế những kết quả đạt đợc trên đây đã chứng minh triển vọng lạc quan
của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài tại việt nam trong thời gian tới.
b. Thời kì 1991-1996.
Trong thời kì nàyhoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam tăng tr-
ởng một cách nhanh chóng và có sự thay đổi lớn về chất lợng. Tính từ năm 1991
đến năm 1996, chúng ta đã cấp giấy phép đầu t cho 1765 dự án với tổng vốn
đăng kí là 24927 tr.USD, trong đó chỉ riêng năm 1991, năm thấp nhất của thời
kì, cũng đạt 1294tr.USD gần bằng cả ba năm của thời kì trớc cộng lại. Lợng vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài thu hút vào Việt Nam đạt mức cao nhất vào năm 1996
là 8258tr.USD gấp 5,6 lần thời kì 1988-1990, gấp 24,5 lần 1988 và 6,3 lần năm
1991. Tốc độ tăng trởng vốn đầu t bình quân hàng năm đạt 45%/năm. Quy mô
mổi dự án không ngừng tăng lên qua các năm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét