khi có thơng mại ở cả Mỹ và Châu Âu. Do chuyên môn hoá sản xuất và thơng mại làm
cho mức sản xuất mở rộng trên thế giới cả về lơng thực và quần áo, từ đó tạo cho mọi
ngời có cuộc sống khá hơn.
Dựa trên cơ sở nguyên tắc lợi thế so sánh nói trên chúng ta khẳng định: Nếu
mỗi nớc chuyên môn hoá vào các sản phẩm mà nớc đó có lợi thế so sánh (hay có
hiệu quả sản xuất cao nhất) thì thơng mại sẽ có lợi cho cả 2 bên. Tiền lơng và thu
nhập thực tế sẽ tăng lên ở cả 2 nớc dù 1 trong 2 nớc có hiệu quả tuyệt đối thấp hơn
nớc kia.
Ngoài ra, sự khác nhau về sở thích và nhu cầu cũng là nguyên nhân để có th-
ơng mại quốc tế, ngay cả trong trờng hợp hiệu quả tuyệt đối trong hai nơi giống
hệt nhau, buôn bán vẫn có thể diễn ra do sự khác nhau về sở thích.
Từ những lý luận trên ta thấy lý thuyết lợi thế so sánh có thể vận dụng đối với
bất cứ mặt hàng nào, quốc gia nào chứ không phải chỉ riêng với Mỹ và Châu Âu.
2-/ Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu đợc thừa nhận là hoạt động cơ bản của hoạt động thơng mại quốc
tế, là phơng tiện thúc đẩy cho phát triển kinh tế, mở rộng xuất khẩu tăng thu ngoại
tệ cho tài chính và cho nhu cầu nhập khẩu cũng nh tạo cơ sở cho phát triển cơ sở
hạ tầng là mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thơng mại. Nhà nớc ta đã và
đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hớng theo xuất khẩu,
khuyến khích khu vực t nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và
tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
Đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển kinh
tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Vai trò của xuất
khẩu thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công
nghiệp hoá đất nớc và xuất khẩu cũng tạo nguồn vốn ngoại tệ góp phần cải thiện
cán cân thơng mại. Công nghiệp hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đ-
ờng tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nớc ta. Để công
nghiệp hoá đất nớc trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn nhập
khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có
thể đợc hình thành từ các nguồn nh: đầu t nớc ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ du,
lịch dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao động, Các nguồn vốn từ đầu t nớc
ngoài, vay nợ, viện trợ, tuy quan trọng nhng vẫn phải trả bằng cách này hay cách
khác ở thời kỳ sau. Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất
5
nớc vẫn phải là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định tốc độ, quy mô tăng của nhập
khẩu.
Hai là, xuất khẩu phát huy lợi thế so sánh của nớc ta với các nớc trên thế
giới. Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nớc khi nói về tiềm năng kinh tế của
Việt Nam đã nhấn mạnh về nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, lực lợng lao
động đông đảo, có trình độ đào tạo khá cao nh một lợi thế so sánh quan trọng.
Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh của Việt Nam có quy mô vừa và
nhỏ, rất dễ thay đổi mô hình kinh doanh và nhanh chóng tiếp thu kiến thức và kỹ
năng quản lý cũng nh nghiệp vụ Marketing của nớc ngoài, nhất là từ các nớc láng
giềng Châu á. Ngoài những lợi thế này, từ 1986 với chính sách đổi mới và mở cửa
của nền kinh tế, chấp nhận quyền sở hữu t nhân và đảm bảo các điều kiện cần thiết
cho kinh doanh t nhân, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu đáng kể:
tăng trởng cao, lạm phát thấp, cán cân thanh toán hợp lý. Những thành tựu này
cũng là những lợi thế giúp cho hoạt động thơng mại quốc tế phát triển tốt. Với hơn
75 triệu dân, Việt Nam đợc coi là bạn hàng tiềm năng quan trọng không chỉ trong
khối ASEAN mà còn đối với cả thế giới. Với những lợi thế so sánh, Việt Nam còn
có điều kiện lựa chọn chiến lợc xuất khẩu, Việt Nam sẽ tiến tới sản xuất và xuất
khẩu những sản phẩm công nghệ cao, cần nhiều vốn.
Ba là, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Hiện nay cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi
vô cùng mạnh mẽ, đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện
đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu
hớng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nớc ta. Có 2 cách nhìn nhận
về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đó là:
- Xuất khẩu là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá nhu
cầu tiêu dùng nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển
nh nớc ta, sản xuất về cơ bản còn cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự d thừa
của sản xuất thì xuất khẩu vẫn còn nhỏ bé, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế
sẽ rất chậm chạp.
- Thị trờng thế giới là mục tiêu hớng tới của tổ chức sản xuất. Xuất phát từ
nhu cầu của thế giới mà ta tổ chức sản xuất, điều này có tác động mạnh mẽ tới sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đối với sản
xuất thể hiện ở:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, khi phát triển sản xuất hàng may mặc xuất khẩu sẽ tạo cơ hội mở
rộng các ngành có liên quan nh: bông, vải, sợi, thuốc nhuộm,
6
+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần phát triển
và ổn định sản xuất.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
+ Xuất khẩu có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia.
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên
thế giới về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại
sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trờng thế giới. Các
doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn, việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm nhiều
mặt, trớc hết sản xuất hàng hoá xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động vào làm
việc, cải thiện thu nhâp. Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu
dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
của nớc ta. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ
thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại. Có thể hoạt động
xuất khẩu xảy ra sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc
đẩy các quan hệ đối ngoại phát triển. Chẳng hạn nh xuất khẩu và sản xuất hàng
xuất khẩu tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của tín dụng quốc tế, đầu t quốc tế,
vận tải quốc tế,
Mặt khác chính các quan hệ kinh tế đối ngoại này lại tạo tiền đề mở rộng
xuất khẩu. Sự phát triển của các hoạt động kinh tế, đối ngoại nh dịch vụ thơng mại
quốc tế, bảo hiểm quốc tế, góp phần làm tăng GNP của nền kinh tế quốc dân.
Ngoài ra, xuất khẩu còn là tiền đề cho sự hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát
triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nớc.
3-/ Mục tiêu nhiệm vụ của xuất khẩu:
Mục tiêu của xuất khẩu mà chúng ta muốn nói ở đây là mục tiêu nói chung
của hoạt động xuất khẩu. Mục tiêu này có thể không hoàn toàn giống với một mục
tiêu của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp xuất khẩu là để hởng lợi nhuận từ việc
bán hàng hoá với giá cao hơn trong nớc hay để đợc một khoản lợi nhuận từ việc
chênh lệch tỷ giá khi chuyển đổi qua lại giữa các đồng tiền.
7
Còn đối với một quốc gia, xuất khẩu đợc dùng để trả nợ, để chi cho các hoạt
động ngoại giao, nhng mục tiêu quan trọng nhất của xuất khẩu là để đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng: phục vụ cho công
nghiệp hoá đất nớc, cho tiêu dùng, tạo việc làm cho ngời lao động. Xuất khẩu là
để nhập khẩu, do đó thị trờng xuất khẩu phải gắn với thị trờng nhập khẩu, phải
xuất phát từ yêu cầu của thị trờng nhập khẩu để xác định phơng hớng và tổ chức
nguồn hàng thích hợp.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên hoạt động xuất khẩu cần hớng vào thực hiện
các nhiệm vụ sau:
Một: khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nớc (đất đai, nhân lực, tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, ).
Hai: nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lợng và
kim ngạch xuất khẩu.
Ba: tạo ra những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị
trờng thế giới và của khách hàng về số lợng, chất lợng, sản phẩm hàng hoá phải có
sức hấp dẫn, năng lực cạnh tranh cao.
Bốn: không ngừng phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng
mối quan hệ của Việt Nam với các nớc trên thế giới.
II-/ Nội dung hoạt động xuất khẩu ở doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu:
Hoạt động xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài diễn ra khó khăn, phức tạp hơn
rất nhiều so với việc bán hàng ở trong nớc. Hoạt động xuất khẩu có liên quan tới
những vấn đề nh: ngôn ngữ, bản sắc văn hoá dân tộc, sự vận động của thị trờng,
đồng tiền thanh toán, vận chuyển hàng hoá, pháp luật, chính trị, tập quán, thông lệ
quốc tế,
Hoạt động xuất khẩu đợc tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu
từ điều tra nghiên cứu thị trờng nớc ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất khẩu, lập phơng
án kinh doanh, đàm phán ký kết hợp đồng, điều kiện, phơng thức thanh toán. Mỗi
khâu, mỗi nghiệp vụ phải đợc nghiên cứu thực hiện đầy đủ theo đúng bớc, đúng
thủ tục, phải tranh thủ nắm bắt những lợi thế đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu đạt
kết quả cao nhất.
Một số nghiệp vụ của hoạt động xuất khẩu:
8
1-/ Nghiên cứu tiếp cận thị trờng:
Nghiên cứu thị trờng là việc làm cần thiết đầu tiên với bất cứ một doanh
nghiệp nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới. Thị trờng là một phạm trù khách
quan gắn liền sản xuất và lu thông hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lu thông hàng
hoá ở đó có thị trờng. Thị trờng là tổng thể các quan hệ lu thông hàng hoá - tiền tệ.
Nói cách khác thị trờng là tổng lợng cầu có khả năng thanh toán và cung có khả
năng đáp ứng. Thị trờng bao gồm ngời mua và ngời bán, các quan hệ mua bán,
dung lợng thị trờng.
Nghiên cứu thị trờng hàng hoá thế giới còn bao gồm cả việc nghiên cứu toàn
bộ quá trình tái sản xuất của một ngành sản xuất hàng hoá, tức là việc nghiên cứu
không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lu thông mà cả lĩnh vực sản xuất hàng hoá, phân
phối hàng hoá. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nghiên cứu thị trờng thế giới phải
trả lời đợc câu hỏi:
Xuất khẩu cái gì? dung lợng thị trờng đó là bao nhiêu? thơng nhân trong giao
dịch là ai? sử dụng phơng thức nào? và chiến lợc kinh doanh trong từng giai đoạn?
1.1 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu:
Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu trớc tiên cần dựa vào nhu cầu của sản xuất,
tiêu dùng về quy cách, chất lợng, chủng loại, giá cả, thời vụ và thị hiếu cũng nh
tập quán của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía
cạnh của hàng hoá thế giới. Về khía cạnh thơng phẩm phải hiểu rõ giá trị, công
dụng đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã Nắm bắt đầy đủ giá cả hàng hoá
ứng với từng điều kiện cơ sở giao hàng(CIF,CFR,FOB ) và phẩm chất hàng hoá,
khả năng sản xuất và nguồn cung cấp chủ yếu của các công ty cạnh tranh, hoạt
động dịch vụ bảo hành bảo dỡng, hớng dẫn sử dụng, Để lựa chọn đợc mặt hàng
kinh doanh cũng cần phải nắm vững tỷ suất ngoại tệ các mặt hàng. Trong xuất
khẩu, tỷ suất ngoại tệ là số lợng bản tệ chi ra để có thể thu đợc một đơn vị ngoại
tệ. Nếu tỷ suất ngoại tệ tính ra thấp hơn tỷ giá hối đoái trên thị trờng thì việc xuất
khẩu có hiệu quả. Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không những chỉ dựa vào
tính toán hay ớc tính mà còn phải dựa vào cả kinh nghiệm của những ngời nghiên
cứu thị trờng để dự đoán các xu hớng biến động của giá cả thị trờng trong nớc
cũng nh ngoài nớc, dự đoán đợc các khả năng có thể xảy ra.
1.2 Nghiên cứu dung lợng thị trờng và các nhân tố ảnh hởng:
Dung lợng thị trờng là khối lợng hàng hoá đợc giao dịch trên phạm vi 1 thị tr-
ờng nhất định, trong 1 thời kỳ nhất định (thờng là 1 năm). Nghiên cứu về dung l-
ợng thị trờng cần xác định nhu cầu thực của khách hàng, kể cả lợng dự trữ, xu h-
9
ớng biến động của nhu cầu trong từng thời điểm. Cộng với việc nắm bắt nhu cầu là
nắm bắt khả năng cung cấp của thị trờng bao gồm việc xem xét đặc điểm tính chất
khả năng của sản xuất hàng hoá thay thế, khả năng lựa chọn mua bán. Một vấn đề
nữa là tính chất thời vụ của sản xuất và tiêu dùng hàng hoá trên thị trờng để có
biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn bảo đảm cho việc xuất khẩu có hiệu quả.
Dung lợng thị trờng không cố định, nó thay đổi tuỳ theo tác động của các
nhân tố đó là:
- Nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến động có tính chất chu kỳ.
- Nhân tố ảnh hởng lâu dài đến sự biến động của thị trờng bao gồm những
tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp chính sách của Nhà nớc, thị hiếu tiêu
dùng.
- Nhân tố ảnh hởng tạm thời tới dung lợng thị trờng nh hiện tợng đầu cơ gây
nên những đột biến về cung - cầu, các yếu tố tự nhiên (thiên tai, lụt bão, ), yếu tố
chính trị xã hội,
1.3 Lựa chọn đối tác kinh doanh:
Trong xuất khẩu, khách hàng là những ngời hoặc những tổ chức có quan hệ
giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá hay các
loại dịch vụ các hoạt động hợp tác kinh tế hay hợp tác khoa học kỹ thuật, liên
quan đến việc cung cấp hàng hoá. Có thể chia làm 3 loại khách hàng chính bao
gồm: Các hãng (công ty), các nghiệp đoàn kinh doanh, các cơ quan Nhà nớc. Việc
lựa chọn các đối tợng giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện quan trọng để thực
hiện thắng lợi các hoạt động xuất khẩu. Ngời ta thờng phải dựa trên cơ sở nghiên
cứu sau:
Một là: tình hình sản xuất, kinh doanh của đối tác trong lĩnh vực và phạm vi
kinh doanh để thấy đợc khả năng cung cấp lâu dài thờng xuyên, để liên kết kinh
doanh và đặt hàng sản xuất.
Hai là: khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép ta thấy đợc những -
u thế trong thoả thuận về giá cả, điều kiện thanh toán.
Ba là: thái độ và quan điểm kinh doanh là vơn tới chiếm lĩnh thị trờng hay
độc quyền kinh doanh, độc quyền giá cả, những quan điểm mua bán với bạn hàng.
Tóm lại, công tác nghiên cứu tiếp cận thị trờng là nhằm thực hiện phơng châm
hành động: chỉ bán cái thị trờng cần chứ không phải là bán cái mình có sẵn.
10
2-/ Tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của 1 doanh nghiệp, một địa ph-
ơng hay một vùng có khả năng xuất khẩu đợc. Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu
là một hệ thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán trao đổi hàng hoá nhằm tạo
ra nguồn hàng cho xuất khẩu, bao gồm các khâu từ nghiên cứu thị trờng đến thu
mua, vận chuyển, bảo quản, xuất kho. Phần lớn các hoạt động nghiệp vụ này chỉ
làm tăng chi phí thuộc chi phí lu thông chứ không làm tăng giá trị sử dụng của
hàng hoá. Do vậy các doanh nghiệp cần nghiên cứu để đơn giản hoá các nghiệp vụ
nhằm giảm chi phí lu thông để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, thông qua hệ thống các đại lý
thu mua hàng xuất khẩu chủ động đợc nguồn hàng, chủ động và ổn định trong
kinh doanh buôn bán, nó ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng của hàng xuất khẩu, đến
tiến độ giao hàng, thực hiện hợp đồng xuất khẩu, uy tín của doanh nghiệp và hiệu
quả kinh doanh. Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất
khẩu mạnh không phải chỉ vì lắm tiền nhiều vốn mà phải có hệ thống chân hàng
mạnh, hệ thống đại lý thu mua rộng khắp, hoạt động thờng xuyên bám sát thị tr-
ờng.
Có nhiều tiêu thức để phân loại nguồn hàng xuất khẩu nh: phân loại theo chế
độ phân cấp quản lý (thuộc chỉ tiêu kế hoạch nhà nớc, ngoài kế hoạch) phân loại
theo đơn vị giao hàng, theo phạm vi doanh nghiệp đợc phân công khai thác, theo
khối lợng hàng hoá thu mua, theo mối quan hệ kinh tế. Tuỳ theo tình hình riêng
của mỗi doanh nghiệp mà có những hình thức thu mua, tạo nguồn hàng xuất khẩu
khác nhau nh: thu mua tạo nguồn theo đơn đặt hàng kết hợp với ký kết hợp đồng;
thu mua tạo nguồn xuất khẩu theo hợp đồng, không theo hợp đồng; thông qua liên
doanh liên kết với các đơn vị sản xuất; tự sản xuất; thông qua đại lý thu mua;
thông qua hàng đổi hàng.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu là hệ thống các công việc bao
gồm:
2.1 Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu:
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng xuất khẩu trên thị trờng, đợc
xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Trong đó nguồn hàng
thực tế là nguồn đã có và đang sẵn sàng đa vào lu thông. Nguồn hàng tiềm năng là
nguồn hàng cha xuất hiện, nó có thể có hoặc không xuất hiện trên thị trờng, với
nguồn hàng này đòi hỏi doanh nghiệp ngoại thơng phải có đầu t, có đơn hàng, có
hợp đồng kinh tế thì ngời cung cấp mới tiến hành sản xuất.Trong công tác xuất
11
khẩu đây là nguồn hàng cực kỳ quan trọng.
Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn nhằm xác định chủng loại mặt hàng,
kích cỡ, mẫu mã, công dụng, chất lợng, giá cả, thời vụ, những đặc điểm, tính năng
riêng của từng mặt hàng. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải xác định đợc xem mặt
hàng dự định kinh doanh xuất khẩu có phù hợp và đáp ứng đợc yêu cầu của thị tr-
ờng nớc ngoài về những chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật hay không? Đồng thời nghiên
cứu nguồn hàng xuất khẩu phải xác định đợc giá cả của hàng hoá trong nớc so với
giá cả quốc tế, lợi nhuận thu đợc sau khi trừ đi giá mua và chi phí khác là bao
nhiêu. Ngời làm công tác này cũng cần tìm hiểu chính sách quản lý của Nhà nớc
về mặt hàng đó nh thế nào? Tất cả những công việc này nhằm giúp doanh nghiệp
hạn chế đợc rủi ro của thị trờng, tiến hành khai thác ổn định nguồn hàng trong
khoảng thời gian hợp lý, làm cơ sở chắc chắn cho việc ký kết và thực hiện hợp
đồng xuất khẩu.
2.2 Tổ chức hệ thống thu mua hàng cho xuất khẩu:
Xây dựng một hệ thống thu mua thông qua đại lý và chi nhánh của mình,
doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu sẽ tiết kiệm đợc chi phí thu mua, nâng cao
năng suất và hiệu quả thu mua. Hệ thống thu mua bao gồm mạng lới các đại lý, hệ
thống kho hàng ở các địa phơng, các khu vực có loại hàng thu mua. Chi phí này
khá lớn, do vậy doanh nghiệp phải có sự lựa chọn cân nhắc trớc khi chọn đại lý và
xây dựng kho, nhất là những kho đòi hỏi phải trang bị nhiều phơng tiện đắt tiền.
Hệ thống thu mua đòi hỏi phải gắn với các phơng án vận chuyển hàng hoá, với
điều kiện giao thông của các địa phơng.
Ngoài ra, đầu t cho ngời sản xuất cũng là việc làm chắc chắn lâu dài để đảm
bảo có nguồn hàng ổn định trớc sự tranh mua trên thị trờng nội địa. Tuy vậy, do
yêu cầu của đầu t nên các doanh nghiệp phải có vốn lớn và cũng chứa đựng nhiều
rủi ro do sự biến động của thị trờng, nhất là khi giá cả trên thị trờng hạ xuống dới
mức kinh doanh có lãi. Trong việc này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũ
cán bộ có trình độ kỹ thuật cao, có hiểu biết về sản phẩm, am hiểu tình hình thị tr-
ờng, có khả năng dự đoán xu hớng biến động của thị trờng. Điều này không phải
bao giờ doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cũng làm đợc, bởi vì ngày nay
nhiều sản phẩm thuộc loại kỹ thuật cao, phức tạp và hết sức đa dạng.
2.3 Ký kết hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Phần lớn khối lợng hàng hoá đợc mua bán giữa các doanh nghiệp ngoại th-
ơng với các nhà sản xuất hoặc các chân hàng đều thông qua hợp đồng thu mua,
đổi hàng, gia công, Do vậy việc ký hợp đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
12
công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu. Dựa trên những thoả thuận và tự
nguyện, các bên ký kết hợp đồng làm cơ sở vững chắc đảm bảo cho các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách bình thờng. Đây chính là một hợp
đồng kinh tế, là cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngời cung
cấp hàng.
Tuỳ theo tính chất loại hình thu mua nguồn hàng xuất khẩu mà 2 bên ký kết
với nhau những loại hợp đồng khác nhau.
2.4 Xúc tiến khai thác nguồn hàng xuất khẩu:
Sau khi đã ký kết hợp đồng với các chân hàng và các đơn vị sản xuất, doanh
nghiệp ngoại thơng phải lập đợc kế hoạch thu mua, tiến hành sắp xếp các phần
việc phải làm và chỉ đạo các bộ phận làm việc theo kế hoạch. Cụ thể gồm những
phần việc sau: đựa hệ thống kênh thu mua đã đợc thiết lập vào hoạt động, chuẩn bị
đầy đủ các thủ tục giấy tờ giao nhận hàng theo hợp đồng đã ký, tổ chức hệ thống
kho hàng tại điểm nút của các kênh, tổ chức vận chuyển hàng theo các địa điểm đã
quy định, đa các cơ sở sản xuất gia công chế biến đi vào hoạt động, chuẩn bị đầy
đủ tiền thanh toán cho nhà sản xuất. Trong quá trình hoạt động thu mua, doanh
nghiệp ngoại thơng phải ghi bảng biểu để theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch thu
mua nhằm kịp thời phát hiện những ách tắc trì trệ để có những biện pháp xử lý kịp
thời.
2.5 Tiếp nhận, bảo quản và xuất kho hàng xuất khẩu:
Phần lớn hàng hoá trớc khi xuất khẩu đều phải qua một hoặc một số kho để
bảo quản, phân loại, đóng gói, nhờ làm thủ tục xuất khẩu. Doanh nghiệp xuất nhập
khẩu cần chuẩn bị tốt cho công tác tiếp nhận hàng xuất khẩu. Công tác bảo quản
hàng hoá trong kho là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chủ kho hàng.
Chủ kho hàng phải có trách nhiệm không để hàng bị h hỏng, đổ vỡ, mất mát, trừ
khi hàng hoá bị h hỏng, đổ vỡ, mất mát, là do hành động bất khả kháng gây ra.
Cuối cùng là công việc xuất kho giao hàng, công đoạn này đòi hỏi phải đúng
thủ tục quy định và phải có đầy đủ các giấy tờ hoá đơn hợp lệ.
3-/ Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu:
Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng.
Có nhiều hình thức đàm phán khác nhau:
Đàm phán qua th tín : Đây là hình thức chủ yếu để giao dịch kinh doanh giữa
13
các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Những cuộc tiếp xúc ban đầu thờng qua th từ,
ngay cả sau này khi 2 bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy trì quan hệ
cũng phải qua th tín thơng mại. So với gặp gỡ trực tiếp thì giao dịch qua th tín tiết
kiệm đợc chi phí rất nhiều. Trong cùng một lúc có thể giao dịch đợc với nhiều
khách hàng ở nhiều nớc khác nhau. Ngời viết th tín có điều kiện để cân nhắc suy
nghĩ, tranh thủ ý kiến nhiều ngời và có thể khéo léo dấu kín ý định của mình. Tuy
nhiên, giao dịch qua th tín thờng mất nhiều thời gian để chờ đợi, có thể bỏ lỡ thời
cơ mua bán. Ngời ta có thể sử dụng điện tín để khắc phục đợc phần nào nhợc điểm
này.
Đàm phán qua điện thoại: Đàm phán qua điện thoại nhanh chóng giúp cho
nhà kinh doanh tiến hành đàm phán một cách khẩn trơng, đúng thời cơ. Tuy nhiên,
phí tổn điện thoại quốc tế tơng đối cao, các cuộc điện thoại trao đổi thờng phải hạn
chế về thời gian, cho nên các bên không thể trình bày chi tiết. Trao đổi qua điện
thoại là trao đổi miệng không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận, những
quyết định trong trao đổi. Vì thế điện thoại chỉ đợc dùng trong trờng hợp thật cần
thiết, khẩn trơng hoặc những trờng hợp chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết. Khi
phải sử dụng điện thoại cần phải chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi
vấn đề đợc nêu lên. Sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có th xác nhận nội dung
đã đàm phán.
Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: gặp gỡ trực tiếp giữa 2 bên để trao
đổi về mọi điều kiện buôn bán, là một hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức
đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa 2 bên và nhiều khi là
lối thoát cho những đàm phán bằng th tín hoặc điện thoại đã kéo dài quá lâu mà
không có kết quả. Đàm phán bằng th tín hoặc điện thoại không thể hiệu quả bằng
đàm phán trực tiếp song đây cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất, đòi hỏi
ngời tiến hành đàm phán phải giỏi nghiệp vụ, tự tin, phản ứng nhạy bén để có thể
tỉnh táo, bình tĩnh dò xét ý đồ của đối phơng.
Với những hình thức đàm phán khác nhau nh trên song nhìn chung các cuộc
đàm phán đều phải thoả mãn các bớc sau:
Chào giá (phát giá): là việc nhà kinh doanh thể hiện rõ ý định bán hàng của
mình, là thời cơ đề nghị ký kết hợp đồng. Trong chào hàng, ngời xuất khẩu phải
nêu rõ tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lợng, điều kiện cơ sở giao hàng giá cả,
thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, bao bì hàng hoá,
Hoàn giá (mặc cả): trong trờng hợp ngời nhận đợc chào hàng không chấp
nhận hoàn toàn chào hàng đó mà đa ra đề nghị mới thì đề nghị mới gọi là hoàn
giá. Mỗi lần giao dịch thờng phải trải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét