Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- TL
min
: Tiền lương tối thiểu nhà nước quy định.
- K
dc
: hệ số điều chỉnh của công ty.
Trả lương cho người lao động phải đảm bảo năng suất lao động
không ngừng tăng lên.
Đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu,
do đó việc trả lương cho người lao động phải đảm bảo năng suất lao động phải
không ngừng tăng lên. Do vậy hệ thống trả lương của doanh nghiệp phải hướng
đến những mục tiêu sau:
- Hệ thống trả lương phải hợp pháp: Tức là hệ thống trả lương của bất
cứ doanh nghiệp nào cũng phải tuân theo pháp luật. Ví dụ như quy định về tiền
lương tối thiểu, giờ giấc làm việc
- Hệ thống trả lương phải đủ lớn để thu hút người lao động tham gia
tích cực trong công việc và gắn bó với doanh nghiệp. Mặt khác tiền lương phải
tương xứng với công sức, cống hiến, đóng góp của người lao động đối với công
ty.
- Hệ thống trả lương phải có tác dụng tạo động lực cho người lao động,
nhằm giúp đảm bảo hiệu quả thực hiện công việc cao. Do đó hệ thống trả lương
cho người lao động ngoài tiền lương cứng nên có phần tiền lương cho sự thực
hiện công việc tốt.
- Hệ thống trả công phải công bằng: Hệ thống trả lương phải đảm bảo
cả công bằng bên trong tổ chức và bên ngoài tổ chức. Tức là, hệ thống trả lương
phải đảm bảo tương quan giữa thu nhận và đóng góp của người lao động trong
tổ chức, cũng như phấn đấu công bằng với bên ngoài tổ chức.
Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu.
Tiền lương đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu nhằm giúp người lao động và cả
nhà quản lý có thể tính toán dễ dàng tiền lương mà người lao động nhận được.
Đối với người lao động tiền lương rõ ràng sẽ làm cho họ cảm thấy tiền lương
công bằng hơn. Từ đó giúp cho người lao động quan tâm và nâng cao hiệu quả
công việc hơn.
1.2.2. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Để xây dựng, quản lý và sử dụng một chế độ tiền lương hợp lý trong bất
cứ một doanh nghiệp nào thì cần phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của tổ
chức tiền lương. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta khi xây dựng và tổ chức
tiền lương phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau
Đây là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức tiền lương vì nó có ảnh
hưởng rất lớn đến cả người lao động và cả tổ chức.
Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau được xuất phát từ nguyên
tắc phân phối theo lao động. Theo nguyên tắc này những người lao động khác
nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ nhưng cùng thực hiện một công việc với
chất lượng và số lượng thực hiện công việc như nhau thì được hưởng mức
lương như nhau.
Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay việc thực
hiện nguyên tắc này trong cùng một tổ chức thì đơn giản nhưng khó thực hiện
đối với những tổ chức khác nhau. Vì cùng thực hiện một công việc như nhau
với số lượng và chất lượng công việc như nhau nhưng ở những tổ chức hoạt
động có hiệu quả thì mức lương sẽ cao hơn tổ chức đang làm ăn thua lỗ. Do vậy
việc thực hiện nguyên tắc này một cách triệt để thì rất khó khăn.
Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương
bình quân
Năng suất lao động và tiền lương bình quân tăng lên là một quy luật khách
quan. Điều này là do đời sống ngày càng được nâng cao, khoa học kĩ thuật ngày
càng phát triển nên việc áp dụng các tiến bộ công nghệ vào sản xuất kinh doanh
làm tăng năng suất lao động là điều tất yếu.
Xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương bình quân ta nhận thấy:
Tiền lương bình quân tăng lên là do trình độ tổ chức, quản lý lao động, việc
nâng cao kỹ năng làm việc và nó cũng phụ thuộc vào ý chủ quan của người lãnh
đạo. Trong khi đó các yếu tố làm tăng năng suất lao động ngoài những yếu tố
trên còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như: Đổi mới công nghệ sản xuất,
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật trong lao động và sử dụng hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, Như vậy, rõ ràng năng suất lao động có khả năng tăng
nhanh hơn tiền lương bình quân.
Xét trong toàn bộ nền kinh tế, ta nhận thấy có mối quan hệ giữa tốc độ
tăng năng suất lao động và tiền lương thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng. Trong
nền kinh tế thu nhập quốc dân phụ thuộc vào thu nhập khu vực I (khu vực sản
xuất tư liệu sản xuất) và khu vực II (khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng). Do đòi
hỏi của quy luật tái sản xuất mở rộng nên vốn đầu tư co khu vực I luôn phải lớn
hơn khu vực II. Do vậy tổng sản phẩm xã hội (khu vực I cộng với khu vực II) có
tốc độ tăng nhanh hơn tổng sản phẩm xã hội của khu vực II. Trong đó, tổng sản
phẩm xã hội tính theo đầu người là cơ sở của năng suất lao động bình quân, còn
sản phẩm bình quân tính theo đầu người của khu vực II là cơ sở của tiền lương
thực tế. Mặt khác tiền lương chỉ là một phần trong tiêu dùng. Vì vậy, phải đảm
bảo năng suất lao động bình quân phải cao hơn tiền lương bình quân.
Xét trong phạm vi một doanh nghiệp, ta nhận thấy tăng tiền lương dẫn đến
tăng chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động lại làm giảm chi phí sản xuất.
Trong khi đó một doanh nghiệp luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu nên
phải đảm bảo cho năng suất lao động bình quân phải tăng nhanh hơn tiền lương
bình quân. Điều này được thể hiện trong công thức sau đây:
0
W
)1( xd
I
I
Z
TL
−=
Trong đó:
- Z: % tăng (giảm) giá thành.
- I
TL
: Tốc độ tăng tiền lương.
- I
W
: Tốc độ tăng năng suât lao động.
- d
o
: Tỷ trọng tiền lương trong giá thành sản xuất
Khi I
TL
< I
W
thì Z < 0, lúc này giá thành sản phẩm đã giảm Z%.
Tuy nhiên trong một số trường hợp nguyên tắc này cũng có thể bị vi
phạm, Đó là trong trường hợp sản xuất có sự đình đốn, giảm sút, nếu tiếp tục
giảm tiền lương thì lại là nguyên nhân làm giảm năng suất và không tạo động
lực làm việc cho người lao động. Do vậy phải giữ nguyên tiền lương để kích
thích người lao động vẫn làm việc bình thường để nâng cao năng suất lao động.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nguyên tắc này đảm bảo cho doanh nghiệp có thể tích luỹ để tái sản xuất
mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh doanh, vừa nâng cao đời sống của người lao
động và là cơ sở để phát triển nền kinh tế.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những
người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo sự công bằng và hợp lý cho người lao
động làm các công việc khác nhau với điều kiện làm việc khác nhau. Nguyên
tắc này dựa trên cơ sở sự khác nhau sau:
- Trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành
Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có đặc điểm và tính chất phức
tạp kỹ thuật khác nhau nên đòi hỏi trình độ lành nghề khác nhau, nó được thể
hiện ở chất lượng lao động khác nhau. Sự khác nhau này phải được thể hiện
trong cách trả lương, những ngành nghề có trình độ lành nghề bình quân cao
hơn thì tiền lương bình quân cũng phải cao hơn.
- Điều kiện làm việc:
Điều kiện làm việc ở đây là môi trường lao động, bao gồm: Độ ẩm, ánh
sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, Mỗi công việc, ngành nghề khác nhau thì có điều kiện
lao động khác nhau, mặt khác điều kiện lao động ảnh hưởng đến hao phí sức lao
động trong quá trình làm việc. Những công việc có điều kiện lao động nặng
nhọc, độc hại, thì được trả lương cao hơn. Sự khác nhau trong cách trả lương
cho những lao động làm các công việc có điều kiện làm việc khác nhau để nhằm
khuyến khích người lao động làm việc ở các ngành nghề có điều kiện làm việc
khó khăn, như: khai thác mỏ Sự khác nhau này được thể hiện qua việc áp dụng
các hệ số phụ cấp đối với các công việc làm trong điều kiện khó khăn.
- Vị trí của ngành trong nền kinh tế quốc dân
Trong mỗi nền kinh tế đều có một số ngành trọng điểm và được coi đó là
ngành mũi nhọn để phát triển nền kinh tế. Đối với những ngành này thì tiền
lương trả cho người lao động cũng cao hơn để thu hút lao động giỏi và đây được
coi là giải pháp có ý nghĩa quan trọng để phát triển nền kinh tế. Hiện nay nước
ta có một số ngành trọng điểm mà tiền lương luôn được xem xet cao hơn đó là
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngành công nghệ thông tin, chế tạo máy Để tạo ra sự khác biệt này có thể
thông qua hệ thống thang bảng lương hoặc dùng các hệ số phụ cấp.
- Vị trí địa lý của doanh nghiệp
Mỗi vùng đều có nhưng sự khác biệt nhau về đời sống, văn hoá, vị trí địa
lý, Những khác nhau đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và cuộc sống của
người lao động. Do vậy, để thu hút người lao động làm việc ở những vùng có
điều kịên khó khăn như vùng núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn,
giao thông khó đi lại thì phải có chính sách tiền lương thích hợp với những loại
phụ cấp và ưu đãi thoả đáng.
Có như vậy mới sử dụng hết tài nguyên thiên nhiên của đất nước và làm
giảm khoảng cách kinh tế giữa các vùng trong cả nước
1.3. CÁC HÌNH THỨC VÀ CHẾ ĐỘ TRẢ LƯƠNG
1.3.1. HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG THEO THỜI GIAN
Khái niệm: Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương
cho người lao động dựa trên cơ sở mức tiền lương được xác định cho công việc
trên một đơn vị thời gian và số đơn vị thời gian (giờ hoặc ngày) thực tế làm việc
theo tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đã được xây dựng trước.
Điều kiện áp dụng: Hình thức trả lương theo thời gian được áp dụng
chủ yếu cho các công việc có tính chất sau:
Đối với những người lao động làm công tác quản lý vì tính chất công
việc của họ là khó định mức.
Đối với những công việc mà kết quả thực hiện công việc phụ thuộc
chủ yếu vào máy móc thiết bị mà ít phụ thuộc vào người lao động. Ví dụ những
công việc làm trên dây chuyền tự động
Đối với những công việc khó tiến hành định mức để trả lương cho
người lao động.
Đối với những công việc đòi hỏi đảm bảo sản phẩm phải có chất
lượng cao.
Đối với công việc sản xuất thử, tạm thời…
Ưu, nhược điểm của hình thức trả lương theo thời gian
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hình thức trả lương theo thời gian có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu khi
tính toán. Người lao động và nhà quản lý có thể giải thích và hiểu được lương
mà người lao động nhận được vì tiền lương ở đây chỉ xác định dựa vào hệ số
lương và thời gian làm việc. Tuy nhiên hình thức trả lương theo thời gian cũng
có nhược điểm đó là chưa thực sự gắn kết quả thực hiện công việc với thu nhập
mà họ nhận được.
Các chế độ trả lương theo thời gian.
1> Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản
Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản là chế độ trả lương mà trong đó
tiền lương người lao động nhận được phụ thuộc vào mức lương cấp bậc và thời
gian thực tế làm việc của người lao động.
Tiền lương trả cho người lao động được tính theo công thức sau:
TL
tggđ
= L
cb
x T
Trong đó:
- TL
tggđ:
Tiền lương thực tế mà người lao động nhận được.
- L
cb
: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian.
- T: Thời gian thực tế làm việc của người lao động (giờ, ngày, tháng)
Có ba loại lương theo thời gian đơn giản: Lương giờ, lương ngày, lương
tháng.
Lương tháng: Được tính theo mức lương cấp bậc tháng
Lương ngày: Được tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm
việc thực tế trong tháng.
Lương giờ: Được tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc
thực tế.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chế độ trả lương này còn mang tính chất bình quân, vì vậy không khuyến
khích người lao động hăng hái tham gia công việc. Do đó đây có thể là nguyên
nhân làm cho năng suất lao động không cao.
2> Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng.
Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng là chế độ trả lương có sự kết
hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian đơn giản với tiền thưởng, áp dụng khi
người lao động đạt và vượt mức những chỉ tiêu số lượng và chất lượng đã quy
định.
Điều kiện áp dụng: Chủ yếu áp dụng cho những công nhân phụ và áp
dụng cho những công nhân chính làm những khâu có trình độ cao hoặc sản
phẩm đòi hỏi chất lượng cao.
Công thức tính:
TL
tgct
= TL
tggđ
+ tiền thưởng =L
cb
x T + tiền thưởng
Trong đó: TL
tgct
: Tiền lương theo thời gian có thưởng.
TL
tggđ
: Tiền lương theo thời gian đơn giản
L
cb
: Lương cấp bậc
T : Thời gian thực tế làm việc
Vấn đề trong việc áp dụng chế độ trả lương theo thời gian có thưởng là
xác định tiền thưởng như thế nào để có tác dụng khuyến khích người lao động
quan tâm đến trách nhiệm và kết quả thực hiện công việc. Tiền thưởng có thể
được tính cho tất cả sản phẩm làm ra, cũng có thể được tính chỉ cho những sản
phẩm vượt mức kế hoạch xác định trước. Tuy nhiên tiền thưởng nên được tính
trên khối lượng công việc hoàn thành vượt mức quy định. Có như vậy mới có
tác dụng tạo động lực cho người lao động tham gia tích cực vào công việc.
1.3.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Khái niệm: Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người
lao động phụ thuộc trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ
mà họ hoàn thành.
Công thức tính:
TL
sp
= ĐG
tl
x Q
Trong đó: - TL
sp:
Tiền lương theo sản phẩm
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- ĐG
tl
: Đơn giá tiền lương
- Q: Số lượng sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn quy định.
Đơn giá tiền lương được tính như sau:
ĐG
tl
=
L
cbcv
M
sl
Trong đó:
- L
cbcv
: Lương cấp bậc công việc
- M
sl
: Mức sản lượng.
- M
tg
: Mức thời gian
Điều kiện áp dụng
Để áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm có hiệu quả và thực sự tạo
động lực cho người lao động thì các doanh nghiệp cần phải đảm bảo được các
điều kiện sau:
Thứ nhất, xác định mức lao động có căn cứ khoa học.
Mức lao động thể hiện khối lượng công việc mà người lao động hoàn
thành trong một đơn vị thời gian (gọi là mức sản lượng) hoặc là lượng thời gian
cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc (gọi là mức thời gian) trong
điều kiện làm việc bình thường.
Việc xác định mức lao động có ảnh hưởng rất lớn đến tiền lương của
người lao động. Nếu mức lao động xác định quá cao thì làm cho tiền lương của
người lao động bị giảm, ngược lại nếu mức lao động xác định quá thấp thì lại
gây thiệt hại cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ví vậy, để xác đinh mức lao động có căn cứ khoa học thì phải được xác định
bằng phương pháp nghiên cứu thời gian (chụp ảnh ngày làm việc và bấm giờ
thời gian làm việc) và nghiên cứu chuyển động.
Thứ hai, tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc
Người quản lý cần phải quan tâm đến việc tổ chức và phục vụ tốt nơi làm
việc để giảm thời gian ngừng việc do những lỗi như: nguyên vật liệu không đáp
ứng kịp nhịp độ sản xuất, máy móc thiết bị hỏng nhưng sửa chữa không kịp
thời Việc tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc nhằm tạo điều kiện cho người lao
động hoàn thành và vượt mức lao động.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ ba, thực hiện tốt công tác thống kê và nghiệm thu sản phẩm
Trong hình thức trả lương theo sản phẩm thì tiền lương của người lao
động phụ thuộc rất lớn vào số lượng sản phẩm mà họ sản xuất ra. Vì vậy, để áp
dụng hình thức trả lương này có hiệu quả thì người quản lý phải thống kê và
nghiệm thu sản phẩm chính xác. Thống kê và nghiệm thu sản phẩm không chỉ
xác định số lượng sản phẩm sản xuất ra mà còn đảm bảo sản phẩm làm ra đúng
chất lượng quy định, tránh hiện tượng người lao động chạy theo số lượng mà
không quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Việc thống kê và nghiệm thu sản
phẩm được thực hiện tốt sẽ đảm bảo tính chính xác trong trả lương cho người
lao động.
Thứ tư, đảm bảo chất lượng sản phẩm
Để đảm bảo chất lượng sản phẩm ngoài việc nghiệm thu sản phẩm gắn
với việc chú ý đến tiêu chuẩn sản phẩm đã quy định còn có các cách khác như:
giáo dục và nâng cao ý thức trách nhiệm, nâng cao trình độ cho người lao
động
Ưu và nhược điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm.
Hinh thức trả lương theo sản phẩm có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Ưu điểm:
Một là, hình thức trả lương theo sản phẩm dựa vào số lượng sản phẩm
công nhân trực tiếp sản xuất ra, do đó nó có tác dụng khuyến khích người lao
động tạo ra nhiều sản phẩm dẫn đến năng suất lao động được nâng cao, đặc biệt
là đối với người lao động mà thu nhập của họ chủ yếu là tiền lương mà doanh
nghiệp trả cho họ.
Hai là, hình thức trả lưong theo sản phẩm gắn chặt kết quả thực hiện công
việc với tiền lương mà họ nhận được do vậy tạo động lực cho người lao động
nâng cao trình độ, tích luỹ kinh nghiệm, phát huy sáng tạo để nâng cao khả
năng làm việc và tạo ra nhiều sản phẩm hơn.
Ba là, hình thức trả lương theo sản phẩm nhằm nâng cao ý thức và tính tự
chủ trong công việc, từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản lý.
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên thì hình thức trả lương theo sản
phẩm cũng có những nhược điểm sau:
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nhược điểm:
Một là, vì lương người lao động phụ thuộc rất lớn vào số lượng sản phẩm
mà họ làm ra, do đó họ chỉ quan tâm đến số lượng mà không chú ý đến chất
lượng sản phẩm, không chú ý đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng hợp
lý máy móc thiết bị
Hai là, người lao động không muốn làm những công việc đòi hỏi tay nghề
cao vì khó vượt định mức đề ra.
Ba là, trong trường hợp hoạt động sản xuất bị ngừng do các lý do khách
quan như: Hết nguyên vật liêu, mất điện, máy móc bị hỏng thì ảnh hưởng rất
lớn đến tiền lương mà người lao động nhận được. Do vậy mà hình thức trả
lương theo sản phẩm phù hợp cho các công việc mà ở đó dây chuyền sản xuất
được hoạt động liên tục, công việc có thể định mức được, việc nâng cao năng
suất lao động không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Các chế độ trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm có những chế độ trả lương chủ yếu
sau:
1> Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân.
Đối tượng áp dụng: Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
thường được áp dụng cho công nhân sản xuất mà trong đó công việc của họ
mang tính chất độc lập, sản phẩm có thể kiểm tra và nghiệm thu một cách cụ thể
và riêng biệt.
Công thức tính: Tiền lương mà người lao động nhận được được tính
theo công thức sau:
TL
spcni
= ĐG
tl
x Q
tti
ĐG
tl
=
L
cbcv
= L
cbcv
x M
tg
M
sl
Trong đó:
- TL
spcn
: Tiền lương sản phẩm công nhân (i)
- ĐG
tl
: Đơn giá tiền lương
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét