Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3
5.2. Xây dựng hệ thống các biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên
khoa Ngoại Ngữ và tiến hành thực nghiệm các biện pháp (áp dụng trên phần
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ
trong mối quan hệ với hoạt động dạy học.
- Phương pháp điều tra bằng ankét về thực trạng tự học của sinh viên khoa
Ngoại Ngữ trong giai đoạn hiện nay.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến góp ý của các chuyên gia về cách
xử lý kết quả điều tra, các biện pháp tổ chức, cách thực nghiệm…
- Phương pháp thực nghiệm khoa học: Tiến hành thực nghiệm các biện
pháp tổ chức hoạt động tự học môn Tâm lý học ở trên lớp cho sinh viên khoa
Ngoại Ngữ.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá các tài liệu
lý luận về tự học.
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu lịch sử của vấn đề nghiên cứu, phát hiện
và khai thác những khía cạnh mà các công trình nghiên cứu trước đây đã đề
cập tới vấn đề về tự học và tổ chức tự học, làm cơ sở cho việc tiến hành các
hoạt động nghiên cứu tiếp theo.
6.3. Phương pháp toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm để xử lý số liệu về thực
trạng tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài
Nghiên cứu hoạt động tự học của sinh viên khoa Ngoại Ngữ và tiến hành
thực nghiệm một số biện pháp tổ chức hoạt động tự học (áp dụng trên phần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học dạy học) cho sinh viên khoa Ngoại Ngữ -
ĐHTN.
8. Những luận điểm mang tính chất phƣơng pháp luận của đề tài
Nghiên cứu vấn đề tự học trong sự hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên một cách toàn diện.
Nghiên cứu vấn đề tự học trong mối quan hệ với các hoạt động khác:
hoạt động chính khoá, hoạt động ngoại khoá, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Nghiên cứu hoạt động tự học trong mối quan hệ thống nhất biện chứng
với hoạt động dạy học.
Nghiên cứu hoạt động tự học theo quan điểm tiếp cận tâm lý học hoạt động.
Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học.
Nghiên cứu hoạt động tự học trên quan điểm phát triển dựa vào yếu tố
nội lực là cơ bản (yếu tố người học giữ vai trò quyết định).












Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5
PHẦN HAI: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ - ĐHTN

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Vấn đề tự học và tổ chức tự học trong các nghiên cứu ở nước ngoài.
Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt
động tự học, chúng tôi có một số nhận xét sau: Tự học, tổ chức hoạt động tự
học không phải là mảnh đất mới chưa được “cày xới” mà tự học là một vấn đề
đã được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm đến dưới các góc độ
khác nhau: phát huy tính tích cực, tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của
người học như các nhà khoa học giáo dục Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki,
Đixtecvec, Usinxki.
Ngay từ những năm công nguyên, XôCơRát (469 – 339 TCN) đã đưa ra
quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính
mình. Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho
người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm
của mình và tự khắc phục những sai lầm đó.
Đến thế kỉ 17 J.A.Cômenxki (1592-1670) đã tìm ra phương pháp cho phép
giáo viên giảng viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông đề ra một số
nguyên tắc dạy học mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng nhằm phát huy
tính tích cực học tập của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong
dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc
điểm đối tượng.
Đến thế kỉ thứ XIX Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824-1870) đã nghiên
cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh. Theo ông tính tích cực, tính
độc lập là cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả. Ông cho rằng cần giáo
dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6
động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển
bản thân. Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy
của người giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho
học sinh tích cực ở mức độ cao nhất.
Đầu thế kỉ XX những thành tựu về lý luận dạy học của nhà nước Xô Viết ra
đời gắn liền với tên tuổi của một số nhà giáo dục học nổi tiếng như:
V.V.Đavưdov, L.V.Zankov[41], I.Ia.lecne[47], Iu.K.Babanski[13],
R.A.Nhizamov [51]. Khi nghiên cứu về lý luận dạy học ở đại học, các tác giả
đã vạch rõ sự khác biệt giữa dạy học ở đại học với dạy học ở phổ thông: Các
tác giả cho rằng dạy học ở đại học không phải chỉ trả lời câu hỏi dạy như thế
nào? Mà còn phải trả lời câu hỏi: sinh viên độc lập học tập như thế nào? Độc
lập nghiên cứu khoa học ra sao? Tìm tòi sáng tạo như thế nào? Có thể nói
ngay từ đầu thế kỉ XX, vấn đề tự học ở đại học đã được rất nhiều các tác giả
quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phương pháp học. Vấn đề này cho
đến nay vẫn tiếp tục được nghiên cứu.
Còn I.F. Kharlamop đã nghiên cứu tự học dưới góc độ tìm ra những biện
pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh bằng cách: Tăng cường việc
nghiên cứu làm việc với sách giáo khoa, với tài liệu học tập, dạy học nêu vấn đề,
cải tiến công tác tự lực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá…
Cùng với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxki nghiên cứu tự
học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối ưu hoá việc học theo hai
hướng: Phát huy tính tích cực, tính tự giác của học sinh trong học tập dưới
sự hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của thầy, kết hợp với quản lý và tự
quản lý hoạt động học tập của học sinh. Với ý tưởng trên trong dạy học
người ta đã đề ra các phương pháp dạy học mới, đó là phương pháp dạy
học chương trình hoá.
Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng với những yêu cầu đổi
mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7
đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hoá việc học, hình thành, phát triển năng lực tự
học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời. Makiguchi [70],
B.P.Exipov [24], khi nghiên cứu bản chất tự học của sinh viên. Các tác giả đã
chỉ ra rằng: bản chất tự học của sinh viên là hoạt động nhận thức bằng hành
động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá. Đây chính là cơ sở lý luận của vấn đề tổ
chức hoạt động tự học cho sinh viên.
Cuối thế kỉ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kĩ thuật, đặc biệt là
ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học đã
nghiên cứu tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất nghiên cứu áp dụng
công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy
học, từ chuyên gia về việc dạy, giáo viên phải chuyển sang chuyên gia về việc
học của người học; Hướng thứ hai là dạy học phân hoá, dạy học tiến hành
theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất
trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học. Tiêu
biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh. Ông đã nghiên cứu
vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt
đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập
thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự
học của người học.
Năm 1986 Sharma và R. Ahmed [63] đã nghiên cứu hoạt động tự học như
là một hình thức tổ chức dạy học bằng cách dạy phương pháp cho người học.
Theo tác giả, người ta có thể dạy phương pháp cho sinh viên bằng nhiều hình
thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, tuỳ theo tính chất đặc thù môn
học và nội dung yêu cầu của bài học. Nhưng theo ông dù tuân theo hình thức
nào thì cũng phải thực hiện theo các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế bài tập và cung cấp nguồn tài liệu cần
thiết cho bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì sinh viên phải làm để hoàn thành
bài tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8
- Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho sinh viên tự nghiên cứu, tự làm bài
tập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn.
- Giai đoạn 3: Giáo viên làm việc với sinh viên trên lớp theo hình thức cá
nhân hay tập thể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina, củng
cố ôn tập, xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá.
Đây là lí thuyết mới về tổ chức tự học dưới góc độ nhìn nhận tự học như là
một phương pháp dạy học.
Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học và tự học,
tổ chức hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới, chúng tôi có một số nhận
xét sau: Tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người, vấn đề tự học của học sinh
nói chung và của sinh viên đại học nói riêng được các tác giả trên thế giới quan
tâm dưới nhiều góc độ khác nhau như phát huy tính tích cực học tập của người
học, tối ưu hoá việc học bằng dạy học chương trình hoá, áp dụng công nghệ
dạy học, tổ chức dạy học phân hoá, dạy học theo nhịp độ cá nhân, dạy phương
pháp học cho người học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người học.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam về tự học và tổ chức tự học
Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch: Học phải suốt đời ngay cả khi đã đi
làm việc [101]. Với phương châm “Về cách học phải lấy tự học làm gốc”;
“Về cách dạy thì phải tránh lối dạy nhồi sọ… Về học tập tránh lối học vẹt”
[33 – tr 444,319]
Đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,
các nhà giáo dục học Việt Nam quan tâm đến vấn đề tự học, tổ chức hoạt
động tự học và đã đi sâu nghiên cứu tự học dưới nhiều góc độ. Tự học là một
hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự điều khiển của thầy (Tác gả
Nguyễn Cảnh Toàn [55] và một số nhóm tác giả khác nữa). Tự học là hoạt
động tích cực, chủ động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo (tổ chức,
hướng dẫn, điều khiển) của thầy (Các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang [53] [56]
Đặng Vũ Hoạt [29], Nguyễn Ngọc Bảo [10]. Trịnh Quang Từ [71],…).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9
Hướng thứ ba nghiên cứu tự học như là một hình thức tổ chức ngoài giờ lên
lớp, phối hợp các hình thức tổ chức dạy học khác (Phạm Hồng Quang [57] và
một số luận văn thạc sỹ khác…)
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có một ý nghĩa và
vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi
người, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản
để người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới.
Trong một số công trình nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động tự học
thì tính tích cực, tính độc lập, động cơ học tập của người học giữ một vai trò
rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học (Nguyễn
Ngọc Bảo, Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức). Kiểm tra đánh giá là khâu then chốt
nhằm giúp người thầy điều chỉnh, điều khiển hoạt động dạy của mình, điều
khiển, điều chỉnh hoạt động học của trò, đồng thời giúp người học tự điều
khiển, tự điều chỉnh hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
của hoạt động dạy học. Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn là một nhân tố
phát huy tính tích cực của người học trong quá trình tự học và hình thành kĩ
năng tự đánh giá ở sinh viên.
Kĩ năng tự học được các tác giả xem xét như là nhân tố bên trong, rất quan
trọng để người học hoàn thành nhiệm vụ học tập. Kĩ năng tự học của sinh
viên được hình thành thông qua hoạt động học tập, rèn luyện, qua phương
pháp dạy của thày và phương pháp học của trò. Những tư tưởng này được
phản ánh qua các công trình nghiên cứu của các tác giả Trịnh Quang Từ, Trần
Văn Hiếu: Tác giả Trần Văn Hiếu đã nghiên cứu về các kỹ năng đọc sách của
sinh viên và đã xây dựng thành công quy trình đọc sách cho sinh viên.

1.2. Lý luận về tự học
1.2.1. Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10
Trong thực tế, người ta có thể có nhiều cách học khác nhau: Học một cách
ngẫu nhiên. Qua kiểu học này, nó đưa lại cho người học những tri thức tiền khoa
học, những năng lực thực tiễn trực tiếp, do kinh nghiệm hàng ngày mang lại.
Cách học thứ hai là học có chủ định, là việc học diễn ra theo phương thức
đặc thù ở nhà trường, qua đó hình thành ở người học những tri thức khoa học,
những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nghĩa là nhằm lĩnh hội
các tri thức mới, kĩ năng, kĩ xảo mới trong nhà trường.
Như vậy, hoạt động học là hoạt động của người học nhằm tổ chức các điều
kiện bên trong và bên ngoài đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
có hiệu quả.
Nghiên cứu hoạt động tự học với tư cách là một hình thức tổ chức dạy học ở
đại học dựa trên quan điểm tiếp cận công nghệ dạy học và tiếp cận hoạt động,
theo Lê Khánh Bằng: Học - về bản chất là quá trình tiếp thu và xử lý thông tin
bằng các hành động trí tuệ và chân tay, dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được
của cá nhân, từ đó mà có được tri thức, kĩ năng, thái độ mới [6 - tr8].
Từ quan niệm trên chúng tôi có thể đi đến khái niệm về học tập như sau:
Học là quá trình người học tự giác, tích cực, độc lập tiếp thu tri thức, kinh
nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ và chân tay
nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo
hướng ngày càng hoàn thiện, và dù trong tình huống nào thì trong bản
thân sự học cũng hàm chứa sự tự học.
Tự học là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. Khi quan niệm về tự
học, có rất nhiều quan niệm khác nhau. Đứng dưới góc độ nghiên cứu hoạt
động tự học như là hoạt động nghiên cứu, với sự giúp đỡ gián tiếp của giáo
viên, thực nghiệm trên mô hình đào tạo giáo viên, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử
dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11
nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ
không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để
chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó”. [66-tr59,60].
Nghiên cứu hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức hoạt động dạy
học ở đại học, tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt
động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do
chính sinh viên tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương
trình và sách giáo khoa đã được quy định. Tự học là một hình thức tổ chức
dạy học cơ bản ở đại học có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá
nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học [48-tr276].
Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và
tích cực, tự giác ở mức độ cao, tự học là quá trình mà trong đó, chủ thể người
học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí
tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân. Tự
học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn như giải bài
tập trên lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp
những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích, nhận xét câu trả lời
của bạn trong quá trình thảo luận…
Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của
giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông
qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh,phán
đoán…) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ
dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người
học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích luỹ
kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến
những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân
người học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12
- Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có
sự tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học.
- Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giáo viên và ngay cả
khi không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Tự học được thực hiện qua
nhiều bước khác nhau: tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau,
xử lý thông tin dựa vào vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình, tự kiểm tra, tự
đánh giá những thông tin đã thu được, vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề
do nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn đặt ra…
Tự học có thể hiểu là quá trình người học tự tìm ra ý nghĩa của việc học,
làm chủ các hành động học tập của mình, tạo ra các cầu nối nhận thức trong
tình huống học.
Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hoá việc học
nhằm thoả mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập
(nhận thức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, các hoạt động giao
tiếp, các hoạt động thực hành, các hoạt động kiểm tra, đánh giá ) để thực
hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra. Hay nói một cách khác
là tự học là học với sự tự giác cao và tích cực ở mức độ cao.
- Tự học chỉ thực sự có hiệu quả khi:
+ Người học phải thực sự có nhu cầu muốn học
+ Tự học chỉ diễn ra khi người học tiến hành giải quyết vấn đề, giải quyết
tình huống, giải quyết các nhiệm vụ học tập
+ Tự học chỉ được thực hiện thông qua làm việc nghĩa là người học phải có
được những cơ hội để thể nghiệm những gì mà họ đã tiếp thu được trước đó.
+ Tự học của sinh viên là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học nó
không thể tách rời với hoạt động dạy của GV, vì vậy tự học chỉ có thể đạt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét