Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta hiện nay
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
5
TBCN không trở thành thống trị trong nền kinh tế của xã hội thì không phải
bằng con đờng bóp nghẹt nh đã làm trớc đây, mà phải bằng cách xoá bỏ
dần dần bằng sự tác động của các nhân tố khác trong đó kinh tế nông nghiệp
là quan trọng nhất.
Vậy sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá
độ đã đợc khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị trờng,
kinh tế NQD là thành phần kinh tế không thể thiếu đợc và đóng vai trò ngày
càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay nớc ta đang trong
quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, một số định kiến xã hội
trớc đây đối với khu vực kinh tế NQD vẫn còn khá nặng nề. Khuôn khổ pháp
luật để phát triển kinh tế NQD đang xây dựng, cha hoàn chỉnh. Song từ khi
có Luật Doanh nghiệp (DN) có hiệu lực, môi trờng kinh doanh đã bớc đầu
đợc cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã đợc xoá bỏ, nhiều doanh
ngiệp đã phát huy đợc tính chủ động sáng tạo, tận dụng đợc hết năng lực
vốn có và tăng vốn đầu t, mở rộng địa bàn để phát triển sản xuất, kinh
doanh
Vậy định hớng đi lên XHCN, bỏ qua chế độ TBCN tất yếu khách quan
phải trải qua thời kỳ quá độ bên cạnh đó khẳng định sự tồn tại tất yếu khách
quan của kinh tế NQD và xu hớng nền kinh tế này phục vụ cho các mục tiêu
phát triển kinh tế của đất nớc trong thời nền kinh tế thị trờng theo định
hớng XHCN.
2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế
Khu vực kinh tế NQD bao gồm các doanh nghiệp NQD (Công ty TNHH,
công ty Cổ phần, công ty Hợp danh, doanh nghiệp t nhân) và các hộ cá nhân
có hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trờng, kinh tế NQD
là thành phần kinh tế không thể thiếu và đóng vai trò ngày càng mạnh mẽ,
tơng xứng với tiềm năng và đóng góp xứng đáng vào sự tồn tại vào sự phát
triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN đòi hỏi Nhà nớc phải có
các chính sách, điều kiện thuận lợi để khu vực này phát huy đợc vai trò của
mình trong tình hình kinh tế hiện nay.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
6
2.1. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật
chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Nớc ta là nớc có nền kinh tế đang trên đà phát triển, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần do vậy mục tiêu phát triển kinh tế là hàng đầu.
Khu vực kinh tế NQD là khu vực có nhiều đặc điểm thuận lợi cho quá trình
làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế nh là: khu
vực thu hút nhiều lao động, đối tợng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế ở mọi nơi trong nớc rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa
thành thị và nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn
của nền kinh tế nh tài nguyên, sức lao động, thị trờng mà vẫn cha đợc
khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhanh nhậy
trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát
huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trờng.
Vậy khu vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời
là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trởng kinh tế do
Nhà nớc đề ra.
2.2. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc
làm cho ngời lao động
Nớc ta là nớc có dân số hơn 80 triệu dân, do đó đối tợng lao động là
rất lớn. Vấn đề thất nghiệp đợc đặt ra cần đợc giải quyết. Trong khi khu vực
kinh tế Nhà nớc và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài luôn đòi hỏi lao
động phải có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm việc
trong khu vực trên dẫn đến một khối lợng lớn lao động đang ở tuổi lao động
không thể làm việc ở trong hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so với
2 khu vực trên thì khu vực kinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phần
lao động, từ những lao động có trình độ cao đến những lao động thủ công, từ
những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp đồng dài hạn, theo mùa vụ hoặc
theo thời gian nhất định Do đó khu vực này góp phần giải quyết thất nghiệp
và tạo ra sự phát triển cân đối cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
7
2.3. Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo cho ngân sách có nguồn thu
ổn định và ngày càng tăng
Trớc hết phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế
NQD mới đúng bản chất là thuế. Vì khác với các doanh nghiệp Nhà nớc,
Nhà nớc không phải chủ sở hữu t liệu sản xuất, Nhà nớc thu thuế của khu
vực này mà không phải đầu t trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu
vực này rất lớn ngày càng tăng và đợc dùng chủ yếu để đầu t vào các ngành
nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu
kém đồng thời khu vực này còn tham gia đóng góp tài chính cho đất nớc
nhiều hơn nữa thông qua các hoạt động tự nguyện hởng ứng các phong trào
do Nhà nớc, đoàn thể phát động nh ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thơng binh,
gia đình liệt sĩ, xây dựng trờng học, đờng xá đóng góp vào các quỹ an ninh,
đền ơn đáp nghĩa Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và
đóng góp vào ngân sách Nhà nớc rất lớn.
2.4. Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần tăng vốn đầu t cho xã
hội
Khu vực này tạo ra một thị trờng vốn tín dụng lớn và hứa hẹn nhiều
tiềm năng cho sự phát triển của các ngân hàng ở nớc ta do sự đổi mới kinh
tế, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực NQD đã
hình thành và huy động một lợng vốn đầu t lớn cho xã hội. Đây là một
nguồn vốn quan trọng, song khai thác cha hiệu quả. Bên cạnh đó khu vực
kinh tế NQD càng phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng gia tăng và có mối
quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống
ngân hàng trong công tác huy động vốn.
2.5. Ngoài những vai trò trực tiếp nêu trên, khu vực kinh tế NQD tồn
tại và phát triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau
- Khu vực NQD phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu dùng xã
hội, giúp cho Nhà nớc trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập trung đầu
t vào những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền kinh tế và
đời sống xã hội, tránh đầu t phân tán, dàn trải Thực tiễn cho thấy có khu
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
8
vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nớc không
cần phải đầu t hoặc chỉ đầu t có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế NQD đã
đảm đơng các chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng và tổ chức các dịch
vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và miền núi.
- Khu vực kinh tế NQD tồn tại và phát triển góp phần thúc đẩy sự
hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên
thị trờng, thúc đẩy kinh tế Nhà nớc tăng cờng hạch toán kinh doanh, đổi
mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Trớc đây
trong điều kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác, sản phẩm hàng
hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chất lợng nào, giá cả ra sao đều đợc tiêu thụ.
Nhng từ khi có kinh tế NQD với đặc điểm t hữu cao, khu vực này rất linh
hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rất cao trong sản xuất, tìm kiếm thị
trờng đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thần làm việc, phát huy mọi khả
năng sẵn có của mình. Để cạnh tranh với khu vực NQD thì buộc khu vực kinh
tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá sản xuất ra nếu không sẽ không đợc thị
trờng chấp nhận. Bên cạnh sự cạnh tranh đó thì nếu hai khu vực này không
còn hợp tác, thúc đẩy nhau để sản phẩm sản xuất ra đợc hoàn thiện với chất
lợng cao hơn. Vậy hợp tác và cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát
triển của hai khu vực kinh tế này.
- Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển còn tác động cả vào
cơ chế quản lý làm thay đổi phơng thức quản lý sản xuất kinh doanh, thay
đổi tác phong, lề lối làm việc của cán bộ công chức nhà nớc, của ngời lao
động.
Trớc hết đối với các cơ quan quản lý và cán bộ công chức Nhà nớc,
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cơ chế quản lý tập trung bao cấp
không còn thích hợp nữa vì Nhà nớc không thể ra lệnh cho các đơn vị kinh tế
NQD phải sản xuất cái gì, phải bán theo giá quy định, mà cho quy luật giá trị,
do thị trờng do nhu cầu xã hội quyết định. Với khu vực kinh tế NQD các cơ
quan quản lý, công chức Nhà nớc không thể can thiệp vào quá trình sản xuất
kinh doanh của họ. Đây chính là những tiền đề đặt ra cần phải đổi mới cơ chế
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
9
quản lý và phải luôn hoàn thiện cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trờng theo
định hớng XHCN.
Phát triển khu vực kinh tế NQD cũng có tác động và làm thay đổi ý
thức, tác phong làm việc của công chức các cơ quan quản lý Nhà nớc. Vì khu
vực kinh tế NQD toàn bộ vốn và tài sản thuộc sở hữu t nhân, họ có quyền
quyết định phơng án sản xuất kinh doanh và chỉ chịu sự quản lý của Nhà
nớc thông qua pháp luật. Cán bộ công chức Nhà nớc không có quyền can
thiệp vào công việc kinh doanh của họ. Quan hệ giữa đơn vị kinh tế NQD và
công chức Nhà nớc là quan hệ bình đẳng trớc pháp luật.
Đối với ngời lao động và những ngời quản lý sản xuất kinh doanh,
câu hỏi đặt ra là làm sao thu đợc lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến
sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá
chất lợng cao, giá thành hạ.
Quan hệ giữa ngời bán hàng dịch vụ và ngời mua hàng dịch vụ đợc
thay đổi từ quan niệm bán nh cho thời bao cấp bằng quan niệm coi khách
hàng là thợng đế đã đợc hình thành.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tác động cả vào các cơ quan quản lý
trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của khu
vực kinh tế NQD đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản ánh đúng quy luật
khách quan của thời kỳ qua độ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VII của
Đảng (tháng 6/1991) đã đánh giá: Chính sách này đợc nhân dân hởng ứng
rộng rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp phần phát huy
quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế, khơi dậy đợc nhiều tiềm năng va sức
sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm và sản
phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá,
tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trờng. Ngoài ra góp phần vào phát
triển và tăng trởng kinh tế ngoài quốc doanh có sự tham giam tích cực của
các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính
đồng thời Nhà nớc đã ban hành 51 luật, pháp lệnh và các Nghị định, quyết
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
10
định, chỉ thị của Chính phủ điều chỉnh và quản lý mọi hoạt động kinh tế xã
hội của đất nớc nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển và lành
mạnh hoá các quan hệ kinh tế xã hội.
3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế NQD và các chính sách
kinh tế của Nhà nớc
3.1.Quan điểm của Đảng về phát triển khu vực kinh tế NQD
Nớc ta đi lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, các luận điểm
của Mác - Ang ghen - Lênin về thời kỳ quá độ có thể vận dụng vào nớc ta vì
giai đoạn này là giai đoạn Nhà nớc của giai cấp công nhân đang đảm nhận
nhiệm vụ lịch sử phát triển sức sản xuất, một nhiệm vụ đáng lẽ ra giai cấp t
bản phải làm. Mặt khác do lực lợng sản xuất phát triển không đồng đều giữa
các ngành, các vùng, vì vậy tất yếu tồn tại kinh tế NQD.
Tuy nhiên để có đợc nhận thức đúng đắn về sự tồn tại của các thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ không phải là dễ dàng, đã có thời kỳ ta chủ
trơng sớm xoá bỏ kinh tế NQD bằng làn sóng quốc doanh hóa, hợp tác hoá,
tạo nên bức tờng ngăn cách giữa kinh tế XHCN và kinh tế NQD dẫn đến
những hậu quả tiêu cực làm cho tiềm lực kinh tế của đất nớc không đợc
khai thác, lực lợng sản xuất bị lãng phí, kinh tế bị kìm hãm không phát triển
đợc, đời sống nhân dân gặp khó khăn.
Qua đánh giá quá trình cải tạo các thành phần kinh tế và vận dụng luận
điểm của Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nớc ta. Đại hội đại biểu
Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra chủ trơng đổi mới toàn diện và sâu sắc để
đi tới CNXH một cách vững chắc. Trọng tâm là đổi mới kinh tế, mà trớc hết
là đổi mới t duy kinh tế. Điều quan trọng là phải nhận thức và tính toán lại
hình thức, và bớc đi của quá trình cải tạo XHCN, làm sao để phát huy đợc
sức mạnh của các thành phần kinh tế trong công cuộc xây dựng đất nớc giầu
mạnh và cái đích vẫn là CNXH. Từ những phê bình về những biểu hiện nóng
vội muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, từ thực tế của đất
nớc và vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế nhiều thành phần là
một đặc trng của thời kỳ quá độ, Đảng ta đã đề ra chính sách sử dụng và cải
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
11
tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc
lần thứ VI đã chỉ ra nhiệm vụ đẩy mạnh cải tạo XHCN là một nhiệm vụ
thờng xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH với những bớc
đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất. Cần phải phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần.
Đờng lối phát triển kinh tế nhiều thành phần còn đợc tiếp tục xác
định tại Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX. Báo cáo chính
trị tại Đại hội Đảng CSVN lần IX khẳng định.
Kinh tế cá thể ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài.
Nhà nớc tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hình thức
HTX tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp phát triển lớn hơn, khuyến
khích phát triển kinh tế t nhân rộng rãi, trong những ngành nghề sản xuất
kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi về
chính sách, pháp lý để kinh tế NQD phát triển trên những hớng u tiên của
Nhà nớc.
Ngoài ra còn nêu rõ ở nớc ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế t bản Nhà nớc.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế t bản t nhân.
+ Kinh tế Nhà nớc.
+ Kinh tế Hợp tác.
Thành phần kinh tế Nhà nớc: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu nhà nớc về t liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà toàn
bộ số vốn thuộc về Nhà nớc hoặc phần của Nhà nớc chiếm phần khống chế.
Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nớc ta, đợc hình thành do Nhà nớc đầu t xây dựng các cơ sở kinh
tế trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn
đợc hình thành bằng con đờng quốc hữu hoá các xí nghiệp t nhân.
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
12
Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập
thể, gồm các dơn vị kinh tế do nhũng ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp
sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp
tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng.
Những loại hình hợp tác xã trên đợc hình thành với quy mô và mức độ khác
nhau phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất, yêu cầu của sản xuất và
đời sống. Xu hớng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo hớng kinh
thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
Thành phần kinh tế t bản t nhân: là thành phần kinh tế dựa trên chế
độ t hữu t bản chủ nghĩa và bóc lột lao động làm thuê, mặc dù không còn
nguyên nghĩa nh xã hội cũ. Nó tồn tại trong những ngành có lợi trong quốc
kế dân sinh, đợc Nhà nớc khuyến khích, kiểm soát và hớng theo con
đờng kinh tế t bản Nhà nớc.
Thành phần này bao gồm các đơn vị kinh tế phần lớn vốn của t nhân
(cả trong và ngoài nớc) đầu t, hoạt động dới hình thức xí nghiệp t doanh,
hoặc công ty cổ phần đợc luật pháp quy định. Thành phần này có u điểm
mạnh về vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai
trò to lớn trong việc phát triển lực lợng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu
nhập kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống.
Thành phần kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t hữu
về t liệu sản xuất và lao động của bản thân ngời sản xuất.
Đặc điểm cơ bản của thành phần kinh tế này là t liệu sản xuất và sức
lao động đợc kết hợp trực tiếp bởi cùng một chủ thể. Mặc dù ngời sản xuất
đợc tự do sản xuất kinh doanh, nhng vẫn chịu tác động trực tiếp của các
thành phần kinh tế khác và của thị trờng. Trong suốt thời kỳ quá độ, đặc biệt
chặng đờng đầu, thành phần kinh tế cá thể có vai trò rất quan trọng trong
việc sản xuất dịch vụ, t liệu sinh hoạt phục vụ đời sống và sản xuất. Kinh tế
cá thể tồn tại độc lập, có thể liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế của các
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
13
thành phần kinh tế khác bằng nhiều hình thức, hoặc tham gia hợp tác xã tự
nguyện nếu ngời lao động thấy cần thiết.
Thành phần kinh tế t bản Nhà nớc: là thành phần kinh tế mà chủ thể
của nó là t bản Nhà nớc cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh;
gồm các đơn vị kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dới các hình thức công ty
hợp doanh, gia công, thuê tài sản Có thể khẳng định rằng trong thời kỳ quá
độ, đây là hình thức kinh tế trung gian thích hợp nhất để chuyển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn ở nớc ta.
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nớc, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân. Ngoài ra, còn có
những hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế
nào nh hình thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu công ty, xí nghiệp cổ
phần, liên doanh, liên kết hai bên và nhiều bên giữa các chủ thể, giữa các
thành phần kinh tế trong và ngoài nớc.
Trên giác độ nghiên cứu, có thể phân chia khu vực kinh tế trong nớc
thành hai khu vực nhỏ hơn: khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh cho phù hợp với những thuật ngữ đang đợc sử dụng phổ
biến trong nhiều văn bản của Nhà nớc và trong các cuộc hội thảo.
Điểm khác biệt căn bản giữa thành phần kinh tế quốc doanh (KTQD) và
thành phần kinh tế NQD là tính chất sở hữu về t liệu sản xuất chủ yếu. Kinh
tế quốc doanh dựa trên sở hữu của Nhà nớc, kinh tế ngoài quốc doanh dựa
trên sở hữu t nhân, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp giữa t nhân với tập thể
hay giữa các t nhân với nhau. Đảng và Nhà nớc ta qua các kỳ Đại hội đã
khẳng định kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, kinh tế ngoài quốc doanh
giữ vai trò mở đuờng cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nớc
trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
3.2.Các chính sách kinh tế của Nhà nớc để phát triển kinh tế NQD
Quán triệt đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng nêu tại đại hội Đảng
Cộng sản Việt nam lần thứ VI, lần thứ VII, lần thứ VIII và Nghị quyết các hội
nghị Trung ơng. Nhà nớc đã nhanh chóng cụ thể hóa thành những chính
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh ở nớc ta hiện nay
14
sách cụ thể và luật hoá để thực hiện. Trớc hết cần phải đợc thể chế thành
điều luật trong hiến pháp, điều 15 Hiến pháp năm 1992 đã qui định Nhà
nớc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc, theo định hớng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t nhân, trong đó sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể là nền tảng.
Về kinh tế NQD, điều 21 Hiến pháp năm1992 qui định: kinh tế ngoài
quốc doanh đợc chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, đợc thành lập
doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề
có lợi cho quốc kế dân sinh. Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nớc là
làm cho dân giàu, nớc mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và
tinh thần của nhân dân. Chính sách kinh tế của Nhà nớc còn nhằm giải
phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nớc và xã hội đã chính thức
thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ. Tuy nhiên,
nếu chỉ công nhận khu vực kinh tế NQD tồn tại thôi thì cha đủ mà cần phải
định hớng cho khu vực kinh tế NQD phát triển theo đúng đờng lối của
Đảng, đúng mục đích đã định ra không để kinh tế NQD phát triển tự phát,
chệch hớng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đờng lối của Đảng, Hiến pháp
thành những chính sách cụ thể. Trong những năm qua Nhà nớc đã nghiên
cứu, ban hành các chính sách cụ thể tạo hành lang pháp lý cho kinh tế NQD
phát triển, đồng thời liên tục chỉnh lý cho các chính sách thật phù hợp với đời
sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm năng của khu vực kinh tế này. Trong các
chính sách đó đáng chú ý là:
- Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp t nhân đợc Quốc hội thông qua
năm 1990 và đợc thay thế bằng Luật doanh nghiệp đợc Quốc hội khoá X
thông qua ngày 16/6/1999 và thống nhất thực hiện từ 1/1/2000.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét