Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc trong điều kiện gia nhập WTO

Luận văn tốt nghiệp
của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu nói riêng, trên thế giới nói chung là rất
lớn. Vì vậy, đứng ở góc độ nước xuất khẩu, nhà xuất khẩu Việt Nam cần có
những chiến lược, sách lược phù hợp để tăng cường xuất khẩu hàng hoá ra thị
trường quốc tế nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ
chức WTO.
- Để xuất khẩu cần có những kênh riêng, đó là hoạt động xuất khẩu. Hoạt
động xuất khẩu là một trong những hoạt động ngoại thương của một quốc gia,
nó có một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia đó. Hoạt động
xuất khẩu mang nhũng đặc trưng sau:
+ Để hoạt động xuất khẩu diễn ra cần có hai hay nhiều bên tham gia.
Khác với buôn bán nội địa, hoạt động xuất khẩu yêu cầu hai hay nhiều bên đó
phải có quốc tịch khác nhau. Đây chính là một trong những mấu chốt để các nhà
xuất khẩu đặt ra chiến lược xuất khẩu hàng hoá của mình. Sự khác nhau về quốc
tịch sẽ dẫn đến sự khác nhau về phong tục tập quán, thói quen…và đó là những
gì mà nhà xuất khẩu phải tìm hiểu, nghiên cứu để thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng. Sự thoả mãn nhu cầu, sự hài lòng ở nước nhập khẩu là yếu tố quan
trọng tạo ra những khách hàng trung thành hay nói đúng hơn là tạo một chỗ
đứng cho hàng hoá của quốc gia xuất khẩu.
+ Do hàng hoá được xuất khẩu ra khỏi biên giới quốc gia sang một thị
trường khác nên sức ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, luật pháp, chính trị là
không nhỏ, đó là mầm mống cho những rủi ro mang lại cho hoạt động xuất
khẩu.
+ Phương tiện thanh toán trong hoạt động xuất khẩu thường là ngoại tệ
đối với ít nhất một bên.
+ Phương tiện vận tải, phương thức vận tải cũng là yếu tố hết sức quan
trọng trong hoạt động xuất khẩu. Vì ở đây chứa những rủi ro cho cả hai bên tham
gia vào hoạt động này. Vì thế, khi tham gia ký kết các hợp đồng ngoại thương,
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
5
Luận văn tốt nghiệp
các nhà xuất khẩu cũng như nhập khẩu cần có các điều khoản, hợp đồng bảo
hiểm…đi kèm để giảm thiểu rủi ro cho mình.
1.1.2. Các hình thức xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá bao gồm các hình thức sau:
1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp
- Xuất khẩu trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán (nhà xuất
khẩu) bán hàng trực tiếp cho nước ngoài (nhà nhập khẩu).
- Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp:
+ Cho phép các nhà xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số
lượng, chất lượng, giá cả để người bán thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường.
+ Giúp người bán không bị chia sẻ lợi nhuận.
+ Giúp xây dựng các chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp.
- Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp:
+ Chi phí tiếp thị ở thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ, ít vốn thì nên xuất khẩu uỷ thác có lợi hơn.
+ Kinh doanh xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi phải có những cán bộ có nghiệp
vụ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: không những giỏi về giao dịch đàm phán mà
còn phải am hiểu và có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ
thanh toán quốc tế thông thạo, có như vậy thì mới đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả. Đây vừa là một yêu cầu đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh xuất khẩu trực tiếp lại vừa thể hiện điểm yếu của đa số các
doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế này.
- Cách thức tiến hành xuất khẩu trực tiếp:
Để tiến hành xuất khẩu trực tiếp cần:
+ Nghiên cứu thị trường, thương nhân.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
6
Luận văn tốt nghiệp
+ Đánh giá hiệu quả của thương vụ kinh doanh thông qua việc xác định
các tỷ giá xuất khẩu và tỷ giá nhập khẩu. Chỉ thực hiện kinh doanh khi tỷ giá
xuất khẩu nhỏ hơn tỷ giá hối đoái.
+ Tổ chức các giao dịch đàm phán qua các hình thức: thư tín hỏi hàng,
báo giá, chào hàng, hoàn giá…hoặc gặp gỡ trực tiếp để đàm phán, thoả thuận, ký
kết hợp đồng.
+ Thực hiện ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu.
+ Tổ chức thực hiện hợp đồng mà hai bên đã ký.
1.1.2.2. Hình thức xuất khẩu gián tiếp
- Khái niệm: Hình thức xuất khẩu gián tiếp hay giao dịch qua trung gian là
hình thức mua bán quốc tế được thực hiện khi nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ
ba. Người này được hưởng một khoản tiền nhất định.
- Các trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý, môi giới.
+ Đại lý là người hoặc một công ty uỷ thác cho người khác, công ty khác
thực hiện mua bán hoặc dịch vụ phục vụ cho việc mua bán như quảng cáo, vận
tải và bảo hiểm.
+ Môi gới thường là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán uỷ
thác tiến hành bán hoặc mua hàng hoá hay dịch vụ. Khi tiến hành nghiệp vụ môi
giới, người môi giới không đứng tên của mình mà đứng tên của người uỷ thác
không chiếm hữu hàng hoá và không chịu trách nhiệm cá nhân trước người uỷ
thác về việc khách hàng không thực hiện hợp đồng.
- Ưu điểm của xuất khẩu gián tiếp:
+ Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập,
pháp luật, tập quán buôn bán của địa phương cho nên họ có khả năng đẩy mạnh
buôn bán và tránh bớt những rủi ro cho người uỷ thác.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
7
Luận văn tốt nghiệp
+ Những người trung gian nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất
định do vậy khi sử dụng họ người uỷ thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước nhập
khẩu.
+ Nhờ những dịch vụ trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói
mà người uỷ thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
- Nhược điểm:
+ Công ty tham gia kinh doanh xuất khẩu sẽ mất đi sự liên hệ với thị
trường.
+ Vốn thường có thể bị bên đại lý chiếm dụng.
+ Công ty phải đáp ứng những nhu cầu mà bên đại lý và môi giới đưa ra.
+ Lợi nhuận bị chia sẻ là chuyện không thể tránh khỏi.
Do những ưu điểm và nhược điểm trên cho nên trung gian chỉ được sử
dụng trong những điều kiện cần thiết như sau: khi thâm nhập vào thị trường mới,
khi tập quán đòi hỏi bán hàng qua trung gian và khi mặt hàng cần có sự chăm
sóc đặc biệt như hàng tươi sống, dễ hỏng…
Sau khi đã xác định nhất định phải sử dụng đại lý, các doanh nghiệp cần
nghiên cứu một cách kỹ lưỡng những vấn đề như mặt hàng uỷ thác tiêu thụ là
mặt hàng nào? thời gian uỷ thác là bao nhiêu?
1.1.2.3. Buôn bán đối lưu
- Khái niệm: Buôn bán đối lưu là hình thức giao dịch trong đó xuất khẩu
kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu; người bán hàng đồng thời là người mua hàng và
lượng hàng hoá đem trao đổi với nhau có giá trị tương đương. Ở đây, mục đích
của xuất khẩu không nhằm thu ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có
giá trị tương đương.
- Hình thức buôn bán đối lưu chủ yếu:
+ Hàng đổi hàng: hai bên trao đổi hàng hoá có giá trị tương nhau, việc
giao hàng diễn ra đồng thời.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
8
Luận văn tốt nghiệp
+ Trao đổi bù trừ: hai bên trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở ghi giá trị hàng
giao, đến cuối kỳ hạn hai bên mới so sánh đối chiếu giữa giá trị hàng giao và
hàng nhận. Nếu sau khi bù trừ tiền hàng như vậy mà còn số dư thì tiền đó sẽ
được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ và những khoản chi tiêu của
bên chủ tại nước bị nợ.
- Dù tiến hành theo hình thức nào các bên cũng phải tôn trọng nguyên tắc
cân bằng. Nguyên tắc này được thể hiện:
+ Cân bằng về mặt hàng: hàng quý đổi lấy hàng quý, hàng ế thừa đổi lấy
hàng ế thừa
+ Cân bằng giá cả: cùng tính cao hơn hay thấp hơn giá cả quốc tế.
+ Cân bằng điều kiện giao dịch: cùng giao FOB cảng đi hay cùng giao
CIF cảng đến
+ Cân bằng về tổng giá trị hàng hoá mà các bên giao cho nhau.
1.1.2.4. Gia công quốc tế
- Khái niệm: gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu
trong đó người đặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên
phụ liệu hay bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia
công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách
hàng. Sau khi các sản phẩm được làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho
người đặt gia công và nhận một khoản tiền gọi là phí gia công.
- Ưu điểm của gia công xuất khẩu:
+ Thị trường tiêu thụ sẵn có, không phải lo chi phí cho hoạt động bán sản
phẩm đầu ra.
+ Vốn đầu tư cho sản xuất là nhỏ.
+ Tạo được công ăn việc làm cho người lao động.
+ Học tập được kinh nghiệm sản xuất của nước ngoài, tạo được mẫu mã
bao bì cho các sản phẩm của mình.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
9
Luận văn tốt nghiệp
- Nhược điểm:
+Tính bị động cao: do toàn bộ hoạt động của các doanh nghiệp phụ thuộc
vào bên đặt gia công về thị trường, giá bán, giá đặt gia công, nguyên vật liệu,
mẫu mã, nhãn mác của sản phẩm…
+ Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán máy móc
cho nước nhận gia công, sau một thời gian không đặt gia công nữa gây tổn thất,
lãng phí cho bên nhận gia công.
+ Nhiều trường hợp bên nước ngoài lợi dụng gia công để bán lại các máy
móc cũ, lạc hậu cho bên nhận gia công làm ô nhiễm môi trường.
+ Do sự lợi dụng của bên đặt gia công để được hưởng ưu đãi từ phía nước
nhận gia công.
+ Nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn lợi dụng gia công để tìm ra sơ hở
trốn thuế gây tổn hại cho nước nhận gia công.
+ Do tính cạnh tranh gia công ở nội địa ngày càng gay gắt làm cho giá gia
công giảm sụt.
1.1.2.5. Tái xuất khẩu
- Khái niệm: tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang
nước khác những hàng hoá đã mua ở nước ngoài chưa qua chế biến ở nước tái
xuất.
- Mục đích của giao dịch này là thu chênh lệch giá mua đi- bán lại, mua
rẻ- bán đắt.
- Các hình thức của tái xuất khẩu:
+ Kinh doanh chuyển khẩu: đây là hình thức mà hàng hoá từ nước xuất
khẩu trực tiếp sang nước nhập khẩu. Nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu,
thu tiền của nước nhập khẩu.
+Tạm nhập, tái xuất: hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, lại
được nước tái xuất xuất khẩu sang nước nhập khẩu.
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
10
Luận văn tốt nghiệp
- Ưu điểm của tái xuất khẩu là rủi ro ít do nhà xuất khẩu chỉ đóng vai trò
xuất khẩu hàng hoá sang nước thứ hai, nước thứ hai có vai trò là một trung gian
vì thế rủi ro lúc này được san sẻ.
- Nhược điểm là lợi nhuận mà các nhà xuất khẩu thu được thấp do các chi
phí về dịch vụ vận tải, bến bãi…là tương đối lớn.
1.1.2.6. Xuất khẩu tại chỗ
- Xuất khẩu tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh
thổ nước mình.
- Ưu điểm: do bán hàng hoá ngay trên lãnh thổ nước mình cho nên các
nhà xuất khẩu tại chỗ ít gặp rủi ro về chính trị, pháp luật, vận chuyển…Do đó
tiết kiệm được chi phí giao dịch, vận chuyển.
- Nhược điểm: số lượng hàng hoá bán được không lớn do mảng thị trường
này chỉ gồm những người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước xuất
khẩu tiêu thụ.
Tóm lại, mỗi một hình thức xuất khẩu đều mang lại những hiệu quả
cũng như những hạn chế, khó khăn nhất định. Vì vậy, đứng ở góc độ nhà xuất
khẩu, Việt Nam cần có những chiến lược, định hướng lựa chọn phù hợp với sự
phát triển kinh tế, khả năng, năng lực của Việt Nam để thu được hiệu quả kinh tế
cao nhất góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn
hiện nay.
1.1.3. Các bước tiến hành xuất khẩu
1.1.3.1. Nghiên cứu và tiếp cận thị trường
- Trên thực tế, trong sân chơi thương mại quốc tế ngày càng diễn ra sự
cạnh tranh gay gắt, khốc liệt. Bước vào giai đoạn toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh
tế, hiện đại hoá đất nước hướng về xuất khẩu, các doanh nghiệp, các nhà xuất
khẩu Việt Nam nói riêng cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường
trước khi quyết định xuất khẩu hàng hoá của nước mình. Những thông tin về thị
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
11
Luận văn tốt nghiệp
trường là tiền đề cho chiến lược kinh doanh của các nước xuất khẩu. Bởi lẽ khai
thác được những thông tin này chính là biết được môi trường, nhu cầu, thị hiếu,
thói quen tiêu dùng của khách hàng, để từ đó biết được cần xuất khẩu mặt hàng
gì? đối tượng xuất khẩu nào? ở đâu? đối thủ cạnh tranh là ai?
- Sau khi thu thập, xử lý thông tin do thị trường cung cấp, các nhà xuất
khẩu cần đưa ra những phương pháp nhất định để tiếp cận thị trường nước nhập
khẩu. Phương pháp phổ biến như qua báo chí, đài, mạng Internet, các hội chợ,
triển lãm, qua các trung tâm xúc tiến thương mại để từ đó quảng bá hình ảnh về
nước xuất khẩu cũng như những sản phẩm xuất khẩu.
Kết quả của quá trính thu thập, nghiên cứu và tiếp cận thị trường là một
định hướng kinh doanh với nội dung chính là đặt ra được hai câu hỏi: xuất khẩu
hàng hóa gì? xuất khẩu đi đâu?
1.1.3.2. Lập phương án kinh doanh
- Sau khi đã có được định hướng kinh doanh, nhà xuất khẩu cần lập ra cho
mình một kế hoạch kinh doanh cụ thể. Trước hết, trong kế hoạch kinh doanh đó
phải có mặt của nội dung sau: xuất khẩu hàng hoá gì? thời gian xuất khẩu? đối
tác xuất khẩu? đối thủ cạnh tranh? chiến lược quảng cáo? lợi nhuận dự kiến? khó
khăn khi thực hiện thương vụ kinh doanh này? giải pháp khắc phục các khó khăn
đó là gì?
1.1.3.3. Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng
- Sau khi các nhà xuất khẩu tìm kiếm được đối tác và thị trường xuất khẩu
thì hai bên phải tiến hành các giao dịch đàm phán với nhau về mặt hàng xuất
khẩu , thời gian tiến hành xuất khẩu, các hình thức vận chuyển, thanh toán để từ
đó đi đến ký kết hợp đồng ngoại thương.
- Các hình thức đàm phán:
+ Đàm phán bằng thư tín
+ Đàm phán qua điện thoại
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
12
Luận văn tốt nghiệp
+ Gặp mặt trực tiếp để đàm phán
Với những hình thức đàm phán trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các
doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình phương thức đàm phán phù hợp nhất,
hiệu quả nhất. Muốn vậy, nhà kinh doanh ngoại thương cần nắm vững ba cơ sở:
pháp luật, thông tin và năng lực của người đi đàm phán.
1.1.3.4. Thực hiện hợp đồng
- Khi hoàn tất các thủ tục, công đoạn của quá trình xuất khẩu như xin giấy
phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, kiểm tra chất lượng hàng hoá, các thủ tục hải
quan, thủ tục thanh toán…chính là thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Trong quá
trình thực hiện hợp đồng cần chú ý đến các điều khoản mà hai bên đã ký kết để
tránh, giảm tranh chấp ngoại thương cho cả hai bên, từ đó hợp dồng sẽ được
thực hiện một cách nhanh chóng và mang lại hiệu quả.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu
Quá trình xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó có những yếu tố cơ bản sau đây:
1.1.4.1. Yếu tố kinh tế
- Thị trường cần có sức mua, cũng như cần có người mua. Sự thay đổi của
các yếu tố như thu nhập, chi phí sinh hoạt, lãi suất và kết cấu tiết kiệm của một
quốc gia có tác động tức thời đến thương trường cho nên các nhà quản trị cần
hiểu rõ những khuynh hướng chính yếu diễn ra các vấn đề này. Một yếu tố cơ
bản để phản ánh bề rộng của thị trường tiềm năng đó là dân số mà quan trọng
hơn nữa là họ phải nghiên cứu, so sánh tốc độ của GNP tăng so với tốc độ tăng
dân số để dự đoán khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của quốc gia mình.
Theo đó, các nhà nghiên cứu cần phải nghiên cứu mức phân bố theo tuổi, đặc
tính phân phối thu nhập ở đó.
- Một trong những yếu tố khác chính là đặc điểm khác nhau của các nền
kinh tế. Chẳng hạn như quốc gia mà nền kinh tế còn chưa phát triển thì việc nghĩ
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
13
Luận văn tốt nghiệp
đến hoạt động xuất khẩu là ít, còn một quốc gia có nền kinh tế mở cửa, đang
trong quá trình CNH- HĐH có chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu thì kim
ngạch xuất khẩu sẽ chiếm phần nhiều trong tổng sản phẩm quốc nội của nước
đó. Bởi lẽ, với chiến lược này cơ hội kinh doanh cho các công ty, các nhà xuất
khẩu là rất lớn. Cũng với chiến lược đó việc dự báo những biến động kinh tế, các
hoạt động xúc tiến của cơ quan quản lý nhà nước đã giúp các nhà xuất khẩu vượt
qua những khó khăn mà thị trường mới mang lại.
1.1.4.2. Môi trường văn hoá- xã hội
- Con người thường lớn lên từ một môi trường xã hội nhất định nào đó.
Đó là cái nôi hình thành những nhân cách, những niềm tin cơ bản, những tiêu
chuẩn và cả những giá trị tiêu chuẩn của họ. Văn hoá- xã hội là yếu tố có ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình buôn bán, tiếp thị hàng hoá của các doanh nghiệp,
các quốc gia. Điều đó thể hiện:
+ Tính bền vững của các giá trị văn hoá cốt lõi: ở đâu cũng vậy, mỗi
người dân đều lưu giữ một giá trị và một niềm tin khác nhau, có tính gốc rễ và
trường tồn theo thời gian. Chính điều đó dã hình thành nên thói quen, thị hiếu
tiêu dùng cho họ. Cho nên các nhà xuất khẩu phải nắm được đặc điểm này để từ
đó biết được thị trường trọng điểm của mình.
1.1.4.3. Môi trường chính trị
- Các quyết định kinh doanh chịu tác động mạnh mẽ từ những thay đổi
trong môi trường chính trị và pháp luật. Môi trường này được tạo ra từ các luật
lệ, các cơ quan, chính quyền, chính phủ. Khi tham gia các hoạt động kinh doanh,
các nhà kinh doanh đều sợ nhất rủi ro về chính trị. Một chủ thể tham gia xuất
khẩu khi xuất khẩu sang một đất nước có môi trường chính trị ổn định cũng có
nghĩa là họ đã tránh được rất nhiều rủi ro tiềm tàng gây tổn thất cho họ. Ngược
lại khi xuất khẩu sang một nước có môi trường đầy biến động, chiến tranh, sự
Nguyễn Thị Năm Lớp: Kinh tế quốc tế 46
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét