của các thầy cô giáo, cán bộ ngân hàng và các bạn sinh viên để khoá luận đ-
ợc hoàn thiện hơn, giúp cho quá trình nghiên cứu và công tác.
Em xin chân thành cảm ơn !
- 5 -
Chơng I:
Cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế.
I. Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế thị trờng:
1. Sự cần thiết khách quan:
Từ sau nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, với sự chuyển biến mạnh
mẽ của nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trờng, hoạt động của nền kinh tế đã trở nên sôi động hơn với nhiều loại
hình kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Các quan hệ
hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trờng ngày càng mở rộng.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII cũng đã khẳng định: Hệ thống
ngân hàng cần phải vơn lên làm tốt chức năng trung tâm tiền tệ - tín dụng -
thanh toán của các thành phần kinh tế, huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần từng bớc ổn định giá trị
đồng tiền Việt Nam.
Là một ngành có vai trò trọng tâm của toàn bộ nền kinh tế, ngân hàng
phải đi trớc các ngành kinh tế khác trong công cuộc đổi mới và phát triển của
đất nớc. Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 của
Đảng đã khẳng định rõ: Phải cải tổ hệ thống ngân hàng để hoạt động có
hiệu quả, thực sự trở thành trung tâm tiền tệ - tín dụng - thanh toán, đóng vai
trò nòng cốt trên thị trờng vốn và tiền tệ.
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời là do chính đòi hỏi ngày càng
cao của nền kinh tế. Sản xuất hàng hoá phát triển qua nhiều giai đoạn từ thấp
- 6 -
đến cao. Nhng ở giai đoạn nào tiền tệ vẫn đóng vai trò là một công cụ có tầm
quan trọng lợi hại đặc biệt và có độ nhạy rất cao. Việc sử dụng công cụ tiền
tệ nh thế nào sẽ gây tác động dây chuyền nh là một tác nhân kinh tế đối với
từng mắt xích hoặc có khi đối với các quá trình kinh tế. Trong các học thuyết
kinh tế, ngời ta đã xác định ngân hàng có vai trò là trung tâm thanh toán của
hệ thống ngân hàng ngày càng rõ nét và to lớn. Tái sản xuất xã hội là một
quá trình liên hoàn, trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá
dịch vụ và do đó phát sinh quan hệ thanh toán.
Mặt khác, tập trung thanh toán vào ngân hàng là một vấn đề thiết yếu
đối với mỗi doanh nghiệp và các tầng lớp dân c trong điều kiện nền kinh tế
phát triển. Ngân hàng là nơi tập trung một khối lợng tiền tệ trong nền kinh tế,
số tồn khoản này dành cho các tổ chức kinh tế trong nớc để tiến hành mở
rộng công việc làm ăn, kinh doanh buôn bán. Trong nền kinh tế hiện đại,
ngân hàng kiểm soát và điều động một cách hợp lý khối lợng tiền tệ, chịu ảnh
hởng của mọi chính sách phát triển kinh tế quốc gia. Tập trung công tác
thanh toán vào ngân hàng có một ý nghĩa to lớn không chỉ đối với xã hội,
chính phủ mà còn với cả các doanh nghiệp và các tầng lớp dân c.
Ngân hàng đứng trên phơng diện rộng lớn, nó phản ánh kinh tế của
một nớc. Nhìn vào những hoạt động và trình độ công nghệ của các nghiệp vụ
trong ngân hàng là ta có thể đánh giá đợc trình độ phát triển kinh tế của nớc
đó. Hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ sẽ tạo ra động lực cho mọi
ngành kinh tế khác trong nớc phát triển và ngợc lại.
Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa thanh toán bằng tiền mặt
ngày càng bộc lộ nhiều nhợc điểm. Các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng,
phức tạp, thanh toán không ngừng tăng lên về khối lợng và chất lợng. Nh vậy,
chính sự phát triển của nền sản xuất và lu thông hàng hoá đã dẫn đến sự ra
- 7 -
đời của một phơng thức thanh toán mới u việt hơn: Thanh toán không dùng
tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt là một nấc thang phát triển tất yếu
của nghiệp vụ thanh toán trong nền kinh tế thị trờng và chính nó đã từng bớc
đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế thị tr-
ờng:
Công tác thanh toán là một trong những chức năng trung tâm của ngân
hàng. Theo đà phát triển chung của xã hội và hệ thống ngân hàng, thanh toán
không dùng tiền mặt ngày trở nên quan trọng.
Ngày nay, thanh toán không dùng tiền mặt là một phần không thể tách
rời các doanh nghiệp, các cá nhân và các đoàn thể. Trong nền kinh tế thị tr-
ờng, thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện trôi chảy sẽ đem lại hiệu
quả thiết thực cho tất cả các đối tác tham gia.
- Thứ nhất: Tăng tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt trong lu
chuyển hàng hoá tiền tệ góp phần làm giảm lợng tiền mặt trôi nổi trên thị tr-
ờng, tiết kiệm đợc chi phí xã hội gắn liền với việc in tiền, huỷ tiền, h hỏng,
bảo quản, kiểm đếm
Khối lợng tiền cần thiết để thanh toán trong lu thông có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Nếu thanh toán không dùng tiền mặt tăng sẽ làm giảm
khối lợng tiền mặt cần thiết. Vì vậy khối lợng tiền mặt trong lu thông giảm
xuống, sẽ giảm đợc chi phí lu thông mà chủ yếu là chi phí phát hành, bảo
quản, kiểm đếm, cất giữ v.v Giảm đợc chi phí này sẽ tạo điều kiện tốt để
điều hoà lu thông tiền tệ vì quá trình thanh toán này chịu giám sát trực tiếp
hoặc gián tiếp của ngân hàng nhà nớc. Vì vậy mà chúng ta kế hoạch hoá và
điều hoà lu thông tiền tệ.
- 8 -
- Thứ hai: Thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ sản xuất và lu
thông hàng hoá. Bất kỳ một chu kỳ sản xuất và lu thông hàng hoá nào đều
bắt đầu bằng khâu thanh toán. Do vậy, phải tổ chức thanh toán nhanh gọn,
chính xác vừa đảm bảo an toàn về vốn vừa rút ngắn đợc chu kỳ sản xuất, tăng
tốc độ luân chuyển vốn. Đứng ở tầm vĩ mô, khâu thanh toán ảnh hởng trực
tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến kết quả sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp. Nếu nh thanh toán đợc tiến hành trôi chảy sẽ giúp cho lu
thông hàng hoá thông suốt, các hoạt động của nền kinh tế sẽ tiến hành thuận
lợi.
Để tiến hành thanh toán qua ngân hàng, các tổ chức, cá nhân phải mở
tài khoản tiền gửi thanh toán thông qua việc gửi một khoản tiền nhất định vào
ngân hàng. Tính chất của tài khoản này là luôn d có, đó là nguồn vốn huy
động tạm thời tồn đọng trên các tài khoản tiền gửi thanh toán nhng cha sử
dụng đến. Hơn nữa, xuất phát từ tính chất không liên tục của việc nộp tiền
bán hàng hoá, dịch vụ vào tài khoản và việc chi trả từ tài khoản, do không
phải lúc nào các lệnh chi trả cũng đợc tiến hành cùng một lúc với giá trị nh
nhau, nên trên tài khoản luôn lu ký một số d nhất định. Đây là nguồn vốn tín
dụng khá lớn và có chi phí thấp (vì trả lãi thấp), mà ngân hàng đợc phép sử
dụng để mở rộng đầu t và tín dụng cho nền kinh tế, (sau khi duy trì một tỷ lệ
nhất định để đảm bảo chi trả cho chủ tài khoản trong mọi trờng hợp).
- Thứ ba: Thanh toán không dùng tiền mặt giúp ngân hàng và các tổ
chức tín dụng tập trung đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c vào nền kinh tế
để mở rộng việc cấp tín dụng ngân hàng.
Nh đã đề cập trong vai trò thứ hai, ngân hàng có thể sử dụng một phần
nguồn vốn từ tài khoản tiền gửi thanh toán để cho vay, mở rộng việc cấp tín
dụng cho nền kinh tế.
- 9 -
Chỉ tiêu kế hoạch tín dụng tổng hợp là một trong những chỉ tiêu kế
hoạch quan trọng của nền kinh tế, mà kế hoạch tín dụng muốn thực hiện đợc
tốt thì phải đẩy mạnh công tác thanh toán qua ngân hàng. Việc thanh toán
này diễn ra càng nhanh chóng thì sẽ giải phóng nhanh vốn trong khâu thanh
toán, kết quả là tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi lớn thì đẩy mạnh hoạt động cho
vay của ngân hàng và cuối cùng là tạo điều kiện để kế hoạch hoá nền kinh tế
quốc dân.
Xu hớng trong thời gian tới khối lợng thanh toán sẽ tiếp tục tăng
nhanh, do vậy nguồn vốn tiền gửi thanh toán sẽ chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong toàn bộ cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng.
Thứ t: Thanh toán qua ngân hàng đã và đang trở thành công cụ cạnh
tranh có hiệu quả của các ngân hàng nhằm thu hút khách hàng. Điều này thể
hiện trên hai khía cạnh sau:
+ Về dịch vụ ngân hàng:
Mục đích của khách hàng gửi tiền vào ngân hàng không chỉ đề hởng
lãi mà còn để mua các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ dần sẽ trở thành mục
đích chính của khách hàng. Vì vậy sức mạnh và khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng đợc đo bằng số lợng và chất lợng các dịch vụ ngân hàng trong đó
có dịch vụ thanh toán.
+ Về chi phí ngân hàng:
Lãi suất ngân hàng phải trả cho số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán
là rất thấp, thậm chí một số nớc trên thế giới ngời gửi tiền không đợc hởng lãi
trên số d tài khoản tiền gửi thanh toán. Vì vậy ngân hàng có thể lợi dụng việc
mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt nh một giải pháp hữu hiệu để thay
đổi cơ cấu nguồn vốn theo xu hớng tăng tỷ trọng nguồn vốn có chi phí thấp,
giảm tỷ trọng nguồn vốn có chi phí cao.
- 10 -
Bên cạnh đó, thông qua việc quản lý biến động về số d trên tài khoản
tiền gửi ngân hàng thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động, khả
năng tài chính của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở rất quan trọng để ngân
hàng thực hiện nghiệp vụ t vấn, đầu t có hiệu quả.
- Thứ năm: Vai trò đối với quản lý vĩ mô của Nhà nớc, ngân hàng là
tổ chức kinh tế thông qua đó các chính sách của Nhà nớc về tiền tệ, tín dụng
và thanh toán đợc thực hiện. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc qua các ngân
hàng chỉ thực sự phát huy đầy đủ tác dụng khi phần lớn khối lợng thanh toán
tập trung qua các ngân hàng. Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tạo
điều kiện cho ngân hàng Nhà nớc quản lý một cách tổng thể quá trình sản
xuất và lu thông hàng hoá.
II. Quá trình phát triển của nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
ở Việt nam.
1. Thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá
tập trung.
ở nớc ta từ khi có hệ thống ngân hàng ra đời, phơng thức thanh toán
không dùng tiền mặt đã đợc áp dụng.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nền kinh tế đợc
thực hiện theo cơ chế hành chính, mệnh lệnh, sản xuất hàng hoá và tiêu thụ
sản phẩm đợc thực hiện theo kế hoạch từ trên giao xuống cho các doanh
nghiệp sản xuất và thơng nghiệp làm công việc phân phối tiêu thụ hàng hoá.
Do vậy sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong xã hội tốt hay xấu cũng không
ảnh hởng gì đến nền kinh tế bao cấp này. Hoạt động của ngân hàng cũng đợc
thực hiện theo cơ chế đó, cho nên hiệu quả kinh tế của ngân hàng cũng nh
toàn bộ nền kinh tế không đợc quan tâm nhiều. Thanh toán không dùng tiền
mặt trong thời kỳ kế hoạch hoá đợc thực hiện theo Nghị định 75/NĐ-CP. Với
- 11 -
nguyên tắc cứng nhắc, kém hiệu quả. Cụ thể phơng thức thanh toán lòng
vòng, chậm chạp (một khoản chuyển tiền thanh toán chi trả tiền hàng khi
thực hiện phải mất rất nhiều thời gian từ 5-10 ngày). Vì công cụ thanh toán
kém linh hoạt, thủ tục phức tạp, các phơng tiện làm việc lạc hậu, và thực hiện
thanh toán bằng thủ công. Do điều kiện kỹ thuạt lạc hậu, công cụ thanh toán
nói trên dẫn đến tốc độ luân chuyển vốn chậm chạp, thiếu chính xác, cung
cấp thông tin không kịp thời và không đảm bảo quyền lợi cho các bên tham
gia thanh toán làm ảnh hởng đến tốc độ và kéo dài chu kỳ sản xuất và lu
thông hàng hoá.
Ngoài công cụ thanh toán nghèo nàn ngân hàng còn có quy định cho
các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế chỉ đợc mở tài khoản tiền gửi tại địa
phơng mình hoạt động (cùng địa phơng).Khách hàng không đợc tự do lựa
chọn ngân hàng dẫn đến không có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng.
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp việc thanh toán
không dùng tiền mặt ở nớc ta tuy đã đợc áp dụng khá rộng rãi trong nền kinh
tế nhằm giảm bớt lợng tiền mặt đi vào lu thông bằng cách ngân hàng đã quy
định cho các doanh nghiệp định mức tồn quỹ tiền mặt, định mức tạo chi
nhng vẫn kém hiệu quả, cụ thể những năm đó lợng tiền mặt trong lu thông rất
lớn, ngân hàng ở trong tình trạng khan hiếm tiền mặt, nh vậy ngân hàng cha
làm tốt chức năng thanh toán của mình để giúp cho nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng đợc xây dựng theo mô hình một cấp gồm Ngân hàng Nhà nớc và
các chi nhánh vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về tiền tệ tín dụng
ngân hàng vừa thực hiện chức năng kinh doanh hoạt động theo phơng thức kế
hoạch hoá tập trên từ dới lên trên.
2. Thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần.
- 12 -
Khi nền kinh tế của nớc ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trờng đòi hỏi ngành ngân hàng phải tiến hành sửa
đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chế độ, thể lệ thanh toán và áp dụng tiến bộ
khoa học vào kỹ thuật thanh toán không dùng tiền mặt cho phù hợp và đáp
ứng đợc yêu cầu đa dạng hoá của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Ngày 26/03/1988 Hội đồng Bộ trởng ban hành Nghị định 53 về tổ
chức bộ máy ngân hàng theo Nghị định này hệ thống ngân hàng bắt đầu đợc
chia thành hai cấp.
- Cấp quản lý: Là Ngân hàng Nhà nớc có chức năng độc quyền phát
triển tiền, quản lý nhà nớc trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng trên tầm
quản lý vĩ mô.
- Cấp kinh doanh: Là các ngân hàng chuyên doanh thuộc sở hữu nhà
nớc và vẫn trực thuộc ngân hàng trung ơng. Các ngân hàng này có chức năng
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Sau khi hai pháp lệnh ngân hàng ra đời ngày 23/05/1990 đã đáp ứng
nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trờng là lần lợt các Ngân hàng Thơng
mại, ngân hàng cổ phần đợc thành lập, chi nhánh ngân hàng nớc ngoài
Năm 1990 hệ thống kho bạc ra đời mà chức năng quản lý quỹ ngân sách nhà
nớc. Bắt đầu của thời kỳ thanh toán không dùng tiền mặt đợc thực hiện bằng
quyết định 101/NH-QĐ ngày 30/07/1991. Quyết định này ban hành các thể
lệ chế độ thanh toán không dùng tiền mặt bằng bốn công cụ sau:
- Séc,
- Uỷ nhiệm chi,
- Uỷ nhiệm thu,
- Thẻ tín dụng,
- 13 -
Sau một thời gian thực hiện bốn công cụ trên cha đáp ứng đợc đầy đủ
nhu cầu đa dạng hoá của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trờng.
Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của thị trờng Ngân hàng Nhà nớc đã bổ sung
và ra quyết định số 22/QĐ - NH1 ngày 22/02/1994 theo quyết định này đã bổ
sung thêm hai công cụ thanh toán mới đó là :
- Ngân phiếu thanh toán
- Thẻ thanh toán
Riêng thanh toán bằng séc đã đợc bổ sung thêm séc cá nhân nhằm
thu hút và tạo điều kiện cho ngời dân quen dần với công việc thanh toán qua
ngân hàng. Sau đó ngày 09/05/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 30/CP về
việc sử dụng séc mới trong cả nớc áp dụng kể từ ngày 01/04/1997 thay thế cho
các loại séc cũ. Việc áp dụng công cụ thanh toán mới đã đáp ứng đợc những yêu
cầu thanh toán đa thành phần trong nền kinh tế, mọi tổ chức, cá nhân trong nền
kinh tế đều có thể tham gia trực tiếp thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân
hàng nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hoá, dịch vụ phát triển, góp phần phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Từ khi đổi mới chế độ thanh toán không dùng tiền mặt ở nớc ta đã có
nhiều chuyển biến tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Điều này đã đợc
chứng minh trên các mặt sau:
- Qua các công cụ thanh toán liên hàng giữa các ngân hàng trong toàn
quốc và thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nớc đã có bớc
tiến bộ rõ rệt. Từ khi áp dụng kỹ thuật máy vi tính để thanh toán liên hàng
(trong cùng hệ thống ngân hàng công thơng) tiến tới thanh toán điện tử thực
hiện từ ngày 01/07/1996 trong toàn hệ thống ngân hàng công thơng Việt
Nam. Khi thanh toán điện tử các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong thanh toán
điện tử đợc hoàn tất trong một ngày làm việc. Trờng hợp khách hàng yêu cầu
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét