Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp phát triển nhà và đô thị tại VN.

Đề án chuyên ngành
của Nhà nớc và đến nhà ở bất quy tắc đợc xây dựng bởi các gia đình và các
nhà thầu nhỏ.
-Khu vực Nhà nớc: khu vực này đợc xem nh tiêu điểm chính
của chính sách nhà ở, vì đó là khu vực mà Chính phủ có thể kiểm soát trực
tiếp. Nhà ở khu vực này chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố không đồng đều
giữa các đô thị có quy mô và vị trí khác nhau. Khu vực Nhà nớc chỉ những
đề án nhà ở đợc Chính phủ hoặc các xí nghiệp, cơ quan Nhà nớc trực tiếp
xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách và nhà ở có nguồn gốc sở hữu khác
đợc chuyển thành sở hữu của Nhà nớc theo quy định của pháp luật. Nhà ở
do Nhà nớc cung cấp thờng là loại nhà đợc bao cấp, với nguồn cung cấp
có hạn mà nhu cầu lại rất lớn, nên khó tránh khỏi những bất công trong
chính sách phân phối nhà ở .
-Khu vực t nhân: Nhà ở đợc xây dựng bởi những cá nhân hoặc
doanh nghiệp không phải từ nguồn vốn Nhà nớc, nhng hoạt động trong hệ
thống quy tắc chính thức của Nhà nớc.Khu vực này Chính phủ ít kiểm soát
đợc mặc dù đã đợc Nhà nớc điều tiết. Các quy tắc mà Nhà nớc điều tiết là
rất cần thiết vì lý do an ninh công cộng và bảo đảm các tiêu chuẩn của ng-
ời tiêu dùng do thiếu thông tin về thị trờng nhà ở. Những ngời cần nhà ở
nhất chính là những ngời nghèo thành thị, nhng thị trờng nhà ở t nhân
không đáp ứng sự càn nhà mà đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh
toán.Trong thực tế, xây dựng nhà ở khu vực t nhân có hiệu quả hơn khu
vực Nhà nớc. Nhng nếu chúng ta buông lỏng , không điều tiết khu vực này
sẽ dẫn đến khoảng cách giữa ngời giàu và ngời nghèo tăng lên và dẫn đến
sự bất bình đẳng trong xã hội về nhà ở.
-Khu vực nhà ở không chính thức: Đây là khu vực xây dựng nhà
ở của t nhân không theo quy tắc, hoặc nhà ở đợc xây dựng trên các giá trị
của cộng đồng và tự giúp đỡ lẫn nhau. Nhà ở trong khu vực không chính
thức có vô số hình thức, tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế xã hội và thiết
chế đăc thù của dân c đô thị. Khu vực này, trên thực tế đóng góp vào sự
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
gia tăng quỹ nhà ở , đặc biệt đối với những tầng lớp dân c có thu nhập
thấp.
*Cầu về nhà ở đô thị :
Tại các đô thị các đối tợng có nhu cầu nhà ở bao gồm :
-Nhà ở cho số dân tăng tự nhiên và tăng cơ học.
-Nhà ở cho những hộ cha có nhà, đang phải ở chung, ở nhờ,
hoặc phải sống tạm bợ tại các khu ổ chuột.
-Nhà ở cho công chức và lực lợng vũ trang.
-Nhà ở nới thêm diện tích ở cho những hộ hiện đang ở quá chật.
-Nhà ở phục vụ các đối tợng tái định c để chỉnh trang và xây
dựng các công trình hạ tầng đô thị .
-Nhà ở cho viên chức và ngời lao động tại các khu công nghiệp
tập trung.
-Nhà ở cho học sinh, sinh viên.
-Nhà ở cho ngời nớc ngoài đến làm việc hoặc kinh doanh.
-Nhà ở phục vụ các nhu cầu khác.
Nhu cầu nhà ở tại các đô thị rất đa dạng vì dân c đô thị làm
nhiều nghề khác nhau và thu nhập giữa các tầng lớp dân c đô thị có sự
chênh lệch lớn.
4.Quản lý Nhà n ớc về nhà ở :
Trong pháp lệnh ngày 26-3-1991 đã quy định rõ nội dung quản lý
Nhà nớc về nhà ở. Nội dung quản lý Nhà nớc về nhà ở bao gồm:
*Ban hành quy chế, tiêu chuẩn quy phạm về quy hoạch, thiết kế
xây dựng, quản lý và sử dụng nhà ở:
Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất trong quản lý
Nhà nớc về nhà ở. Nhà nớc thống nhất quản lý nhà ở bằng pháp luật
nhằm đảm bảo việc duy trì, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và không ngừng phát
triển quỹ nhà ở.
Trong công tác quản lý Nhà nớc về nhà ở, Nhà nớc cũng qy định
cụ thể về các quy chế, thủ tục, tiêu chuẩn bán nhà, khung giá cho từng loại
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
tại Nghị định 61/CP ngày 5-5 1994 của Chính phủ. Đối với những nhà
chung c cao tầng hoặc nhà ở do nhiều chủ quản lý, Bộ Xây Dựngđã ban
hành những quy chế quản lý và sử dụng riêng kèm theo Quyết định 1127/
BXD-QLN ngày 16-8-1994 của Bộ trởng Bộ Xây Dựng.
Bên cạnh những quy định về quản lý sử dụng nhà ở, Nhà nớc
cũng cần xây dựng các chính sách thoả đáng nhằm một mặt khuyến khích
các tổ chức kinh doanh tập thể t nhân tham gia vào quá trình xây dựng nhà
ở, nâng cao giá trị quỹ nhà ở ; mặt khác có khả năng khắc phục những cơn
sốt giả tạo về giá nhà , tạo điều kiện thuận lợi cho ngời dân thoả mãn nhu
cầu của mình.
*Lập kế hoạch xây dựng nhà ở theo đồ án quy hoạch đợc duyệt.
Lập kế hoạch xây dựng và phát triển nhà ở là một công tác tổng
hợp, phức tạp liên quan đến nhiều ngành nh giao thông, thơng mại, dịch
vụ đồng thời nó gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của
địa phơng. Đây là một công tác quan trọng và cấp bách đòi hỏi ngời dân
phải quan tâm và nhận thức đợc điều này. Lập kế hoạch xây dựng và phát
triển nhà ở tốt sẽ làm tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng
năng suất lao động, nâng cao đời sống nhân dân, tạo nên bọ mặt mới cho
sự phát triển văn minh của đất nớc.
*Cho phép hoặc đình chỉ việc xây dựng, cải tạo nhà ở .
Để bảo đảm nhà ở đợc xây dựng theo đúng quy hoạch đã đợc
duyệt, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của quy hoạch tổng thể của từng
địa phơng khi xây dựng nhà ở cần có sự chỉ đạo, cho phép của cấp có thẩm
quyền.
*Đăng ký, điều tra, thống kê nhà ở.
Đây là một nôi dung cơ bản trong công tác quản lý Nhà nớc về
nhà ở. Nó bảo đảm quyền lợi của ngời chủ sở hữu nhà ở trớc pháp luật và
bảo đảm cho cơ quan quản lý nắm đợc tình hình nhà ở của địa phơng mình
và lập kế hoạch phát triển nhà ở.
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
*Thanh tra Nhà nớc, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
pháp luật nhà ở.
Công tác thanh tra và kiểm tra là chức năng của bất cứ cấp quản
lý nào. Nó có nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của
pháp luật về quản lý sử dụng nhà ở.
Với các nội dung trên, Nhà nớc thông qua các công cụ quản lý,
các quy định mang tính pháp lý để hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính
sách phát triển nhà ở phù hợp từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nớc.
II.Thực trạng phát triển nhà ở đô thị và những vấn đề đặt ra:
1.Thực trạng phát triển nhà ở đô thị :
1.1.Trớc thời kỳ đổi mới:
Trong giai đoạn này tuy thiết kế xây dựng còn một số nhợc
điểm nhng bằng nguồn vốn tập trung của Nhà nớc, nên đã giải quyết cơ
bản chỗ ở cho đông đảo CBCNVtrên một số đô thị lớn. Tính bao cấp tuyệt
đối trong lĩnh vực nhà ở đô thị đợc thể hiện trong việc cấp nhà cho thuê với
khoản tiền thuê rất thấp (1% tiền lơng).Do đó đã dẫn đến không đủ kinh
phí để duy tu bảo dỡng và nâng cấp nhà ở, khiến cho quỹ nhà ở xuống cấp
nhanh chóng gây thiệt hại về kinh tế.
Thời kỳ bao cấp, Nhà nớc ban hành nhiều chính sách nhà ở.
Chơng trình Quốc gia về nhà ở đợc thực hiện nhằm cung cấp nhà ở cho ng-
ời lao động trong khu vực kinh tế Nhà nớc ở các đô thị lớn nh Hà Nội, Hải
Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. Các chính sách nh: chính sách vốn đầu t
vào cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng đã góp phần giải quyết đợc nhu
cầu nhà ở.Song, với cách sản xuất và phân phối nhà ở trong thời kỳ bao
cấp đã tạo ra nhiều bất công giữa các ngành, cơ quan xí nghiệp. Cùng với
sự thiếu kinh nghiệm về quy hoạch, quản lý đô thị đã dẫn đến hệ thống đ-
ờng xá, điện nớc, vệ sinh môi trờng thấp kém .
Theo số liệu điều tra nhà ở năm 1989 cho thấy: vào thời điểm
năm 1989 tỷ lệ dân số ở một số đô thị sống trong những căn nhà đợc Nhà
nớc xây dựng trong giai đoạn 1961- 1975 nh sau:
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
Thành phố Hà Nội: 23,6% dân c thành phố.
Thành phố Hải Phòng: 19,8%
Thành phố Đà Nẵng: 37%
Thành phố Hồ Chí Minh:42%
Từ năm1975 đến 1985, tỷ lệ quỹ nhà ở mới xây dựng khá cao
trong tổng quỹ nhà của nhiều đô thị lớn nh Hà Nội 37,1%; Hải Phòng
43,3%; Đà Nẵng 31,8%; trong khi đó Thành phố Hồ Chí Minh lại lâm vào
tình trạng khó khăn, đình trệ trong lĩnh vực này.
(2)

Tóm lại, đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX chỉ có khoảng
30% CBCNV Nhà nớc đợc cấp nhà, 70% còn lại phải tự lo lấy nhà ở của
mình bằng nhiều cách khác nhau hoặc phải sống trong những điều kiện
nhà ở chật hẹp, thiếu không gian.
1.2.Từ 1986 đến nay:
Từ năm 1986 đến nay, chế độ bao cấp nhà ở không còn nữa.
Nhà ở đô thị do dân tự lo, hoặc Nhà nớc và nhân dân cùng làm, bộ mặt
các khu nhà thay đổi rõ rệt.Theo sự phát triển của nền kinh tế thị trờng,
lĩnh vực nhà ở cũng bắt đầu chuyển biến. Đến cuối 1990 diện tích nhà cả
nớc ta có khoảng 500 triệu m
2
, trong đó tại các đô thị là 81 triệu m
2
, nhà ở
thuộc sở hữu Nhà nớc có khoảng 26 triệu m
2
(chủ yếu là các đô thi). Diện
tích bình quân đầu ngời cả nớc khoảng 7m
2
, trong đó ở đô thị là 5,8m
2
/ ng-
ời. Trong những năm từ 1991-1995, các đô thị cả nớc xây dựng đợc 26
triệum
2
nhà ở. Đến cuối 1995 diện tích nhà ở đô thị nớc ta có khoảng 107
triệu m
2
, bình quân là 7,2 m
2
/ngời. Ước tính từ 1996-2000, các đô thị cả n-
ớc xây dựng đợc 40 triệu m
2
nhà ở. Thực tế đến cuối 2000 cả nớc có diện
tích nhà ở là 147 triệu m
2
, bình quân là 7,7 m
2
/ ngời; trong đó Hà Nội có 9
triệu m
2
nhà ở , bình quân là 6,8 m
2
/ngời , Thành phố Hồ Chí Minh có 33
triệu m
2
nhà ở, bình quân là 7,8 m
2
/ngời.
Trong giai đoạn này Nhà nớc có nhiều văn bản xoá bỏ bao cấp,
khuyến khích nhân dân tự xây dựng nhà ở. Chính sách đầu t nhà ở cũng
chuyển từ đầu t có tính chất bao cấp sang chính sách tạo điều kiện đã khơi
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
dậy tiềm năng của nhân dân trong xây dựng nhà ở.Việc đổi mới sản xuất
nhà ở đô thị ởViệt Nam thể hiện trên hai mặt: khối lợng đợc sản xuất ra và
cơ cấu đa dạng của các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất nhà ở .Vì
vậy, trong năm 1990 tại các đô thị đã có 1/3 khối lợng nhà ở đợc xây dựng
bằng tiền của ngời dân. Năm 1992 vốn đầu t xây dựng nhà ở của cơ quan
xí nghiệp và nhân dân gấp 2 lần vốn của Nhà
(2) Giáo trình QLNN về đất đai và nhà ở, trang 248.
nớc .Đến 1994 thì 70% nhà ở là do dân tự xây dựng, tỷ lệ này có xu hớng
tăng dần. Điều này làm cho quỹ nhà ở tăng lên đáng kể cả về số lợng và
chất lợng, giải quyết đợc một bớc nhu cầu nhà ở của dân c.
Tại các đô thị lớn, nhiều khu nhà ở mới đã và đang đợc xây
dựng theo quy hoạch với quy mô hiện đại, đồng bộ, bao gồm cả các dịch
vụ thơng mại, thể thao, vui chơi giải trí và các công trình hạ tầng kỹ thuật
đúng tiêu chuẩn.Đó là khu đô thị mới Định Công, Linh Đàm, khu làng
Quốc tế Thăng Long, khu đô thị mới Trung Hoà - Nhân Chính( tại Hà
Nội ), khu đô thị mới Nam Sài Gòn, An Phú, An Khánh(tại Thành phố Hồ
Chí Minh), khu đô thị mới Cát Bi(tại Hải Phòng) Nhiều khu tái định c,
khu nhà ở cho ngời có thu nhập thấp đã và đang đợc xây dựng tại một số
đô thị .Tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giải toả đợc hàng ngàn căn nhà ổ
chuột , cải thiện môi trờng cho thàng phố và giải quyết nhà ở mới cho dân
là một thành công lớn trong thời gian qua.
Hiện tại, hầu hết nhà ở đô thị đều xây dựng bằng vật liệu bền,
nhng cũng còn nhiều nhà xây dựng tạm bợ. Quá nửa nhà ở đô thị có tuổi
thọ trên 50 năm cần đợc sửa chữa và nâng cấp. Nhiều nhà nguy hiểm
tháp nghiêng đầy hiểm hoạ phải phá đi làm lại. Tại Thành phố Hà Nội
có hơn 300.000 m
2
nhà h hỏng nặng, trong đó có 44 chung c cao tầng bị
lún lứt nguy hiểm.Tại Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 1.000.000 m
2
h
hỏng nặng, trong đó có 105 chung c cần tháo dỡ xây dựng mới. Nhiều hộ
sống chen chúc trong một nhà thiếu tiện nghi phục vụ tối thiểu. Cơ sở hạ
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
tầng kém chất lợng làm cho đời sống dân c đô thị gặp khó khăn, môi trờng
bị ô nhiễm.
2.Những vấn đề đặt ra:
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, việc xây dựng, phát triển
nhà ở còn bộc lộ những hạn chế sau đây:
*Về phát triển nhà ở :
Quỹ nhà ở tăng lên nhng bình quân diện tích đầu ngời vẫn thấp
vì dân số đô thị tăng nhanh. Tình trạng nhà ở trong các đô thị xuống cấp
nghiêm trọng. Hiện có tới hàng triệu m
2
nhà ở đô thị cần sửa chữa hoặc
dỡ bỏ, nhng do nguồn vốn đầu t của quỹ nhà ở hạn hẹp nên hàng triệu ngời
vẫn phải sống chật vật trong những căn nhà này. Nhìn chung chúng ta cha
có đầy đủ quy hoạch ngắn hạn, dài hạn, và chi tiết, cha phân lô, chuẩn bị
đất và mặt bằng cho xây dựng lâu dài.Chúng ta cha hoàn thành và ban
hành chiến lợc phát triển nhà ở đô thị toàn quốc tới năm 2010 và các ch-
ơng trình phát triển nhà ở cho đô thị lớn.
*Về phát triển và quản lý đô thị:
Chính sách tạo mặt bằng, chia đất cho dân xây dựng nhà ở cần
đợc xem xét nghiêm túc. Tại các đô thị nơi tập trung đông dân c, đất
xây dựng giảm đi, giá đất ngày càng tăng. Việc thả nổi cho ngời dân tự do
lo liệu trong việc xây dựng nhà ở, tuy có làm cho quỹ nhà ở trong phạm vi
cả nớc tăng lên đáng kể nhng đã làm cho kiến trúc và cảnh quan đô thị bị
ảnh hởng nhiều, cơ sở hạ tầng hầu nh không có gì, gây ra nhiều phức tạp
trong việc quản lý kiến trúc và cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, do tài chính eo hẹp,
cơ chế thu tiền sử dụng đất, chính sách giải phóng mặt bằng, các loại thuế
và phí cha hợp lý nên các doanh nghiệp kinh doanh nhà ở chỉ quan tâm tới
các dự án nhỏ hoặc chi lô bán đất để thu hồi nhanh vốn, đảm bảo lợi
nhuậnmà ít quan tâm đầu t các dự án lớn có kết cấu hạ tầng đồng bộ.
*Về nguồn tài chính cho phát triển nhà ở :
Trong thời kỳ bao cấp, hàng năm Nhà nớc dành một khoản vốn
Ngân sách đáng kể cho đầu t phát triển nhà ở. Tuy nhiên trong những năm
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
gần đây nguồn vốn này chủ yếu dựa vào vốn huy động của ngời dân, vốn
tự có của doanh nghiệp và vốn vay Ngân hàng. Từ đó đã hình thành nhiều
tổ chức t vấn, đơn vị thi công ngoài quốc doanh, làm cho quy hoạch bị phá
vỡ, bộc lộ tính chất tự phát, manh mún.
Hiện nay cha có cơ chế tài chính thích hợp cho khuyến khích
đầu t phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho các dối tợng u đãi và có thu
nhập thấp .
*Về thị trờng nhà đất:
Trên thực tế đã hình thành thị trờng nhà ở và đất đai đô thị.
Tuy nhiên, Nhà nớc cha có chính sách thích hợp để quản lý thị trờng này,
tạo điều kiện để thị trờng này hoạt động lành mạnh. Từ những năm 1990-
1995, thị trờng nhà đất hoạt động rất sôi động, nhất là ở các thành phố có
tốc độ tăng trởng kinh tế cao nh: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Biên
Hoà, Vũng Tàu.Việc đất đai và nhà ở đô thị đợc thị trờng hoá cùng với
việc đầu cơ đã kéo theo giá đất tăng nhanh, nhất là ở những nơi sinh lợi
lớn. Trong nền kinh tế thị trờng, việc thị trờng nhà đất hoạt động không
lành mạnh, mất cân đối giữa cung và cầu nhà ở, sẽ gây khó khăn cho việc
giải quyết nhà ở cho các tầng lớp dân c.
III.Những giải pháp nhằm phát triển nhà ở đô thị n ớc ta :
1.Quan điểm phát triển nhà ở đô thị :
-Quyền có chỗ ở là một quyền cơ bản của con ngời đợc Nhà n-
ớc công nhận và chăm lo, thông qua các chính sách tạo điều kiện để nhân
dân tạo lập nhà ở phù hợp với nhu cầu và khả năng kinh tế của mình. Nhà
nớc tạo điều kiện để những ngời có thu nhập thấp có thể cải thiện nhà ở
thông qua cơ chế chính sách tạo điều kiện của Nhà nớc. Phải lấy phát triển
nhà ở để vừa giải quyết nhu cầu về chỗ ở kết hợp với giải quyết các vấn đề
tồn tại do lịch sử để lại trong lĩnh vực nhà đất .
-Nhà ở là tài sản lớn của cá nhân và hộ gia đình, nhng cũng là
cơ sở vật chất to lớn của quốc gia, là sản phẩm hàng hoá của một ngành
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
kinh tế quan trọng.Thị trờng nhà ở vừa góp phần vào thực hiện mục tiêu
tăng tổng sản phẩm trong nớc vừa nâng cao mức sống nhân dân .Vì vậy,
Nhà nớc cần tạo điều kiện cho hoạt động đầu t xây dựng nhà ở phát
triển.Tập trung xây dựng và ban hành đồng bộ hệ thống Pháp luật có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng bảo đảm cho thị trờng bất động sản hoạt động
lành mạnh có hiệu quả có sự định hớng của Nhà nớc .
-Nhà nớc bảo đảm khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế xã hội, các thành phần kinh tế và mọi nguồn lực đầu t xây dựng
các công trình nhà ở cho nhân dân đồng thời tạo điều kiện, đảm bảo hiệu
quả kinh doanh cho các chủ đầu t thực hiện công việc xây dựng nhà ở và
đảm bảo công bằng xã hội đối với những đối tợngđợc thụ hởng nhà ở.
-Phát triển nhà ở không thể tách rời cơ chế về đất đai, tài chính,
vật liệu xây dựng, khoa học kỹ thuật, cơ cấu tổ chức vì vậy đòi hỏi sự
phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, và sự phân công hợp lý giữa các
ngành, các cấp chính quyền .
-Để giải quyết tốt nhu cầu nhà ở phải đi đôi với việc thực hiện có
kết quả chơng trình kế hoạch hoá gia đình .Việc phát triển nhà ở phải đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững, giảm thiểu tối đa mức độ ô nhiễm môi
sinh , môi trờng.
2. Ph ơng h ớng và mục tiêu phát triển nhà ở đô thị :
2.1.Mục tiêu phát triển nhà ở đô thị đến năm 2010:
Một là: Phát triển nhà ở phải đảm bảo bền vững, quản lý đợc về
mặt kiến trúc, bảo đảm an toàn, tiện nghi, kinh tế, thích hợp với điều kiện
tự nhiên, môi trờng sống, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong lĩnh
vực nhà ở.
Phấn đấu đến 2010 mỗi hộ gia đình có chỗ ở thích hợp thông
qua việc tạo lập (xây dựng, mua )hoặc thuê nhà ở.Diện tích nhà ở đạt bình
quân từ 9- 12 m
2
/ngời. Phấn đấu để mỗi hộ dân tại đô thị đợc ở trong một
căn hộ độc lập. Trong đó phải tập trung chỉ đạo thực hiện đầu t phát triển
nhà ở theo dự án. Triển khai thực hiện tốt các chính sách u đãi trong xây
Kinh tế và quản lý địa chính
Đề án chuyên ngành
dựng nhà ở phục vụ nhu cầu của cán bộ, công chức viên chức và ngời thu
nhập thấp .Trong đó đặc biệt chú trọng nhà ở cho thuê, bán trả góp .
Hai là: Để tạo điều kiện chăm lo nhà ở cho nhân dân, các
ngành có liên quan phải tập trung xây dựng trình Chính phủ ban hành
đồng bộ các văn bản pháp quy, các cơ chế chính sách vừa bảo đảm phát
triển nhanh qũy nhà, vừa đa công tác quản lý hoật động kinh doanh bất
động sản nhà ở vào nề nếp và đạt hiệu quả cao, bảo đảm các nguyên tắc
công khai, công bằng.
Ba là: Nhà nớc và xã hội tiếp tục thực hiện chính sách nhà ở
đối với ngời có công, quan tâm xây dựng nhà tình thơng, giúp đỡ những
đối tợng không thể tự lực tạo lập nhà ở .
2.2.Phơng hớng :
Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đề ra Phơng hớng phát
triển đô thị là hình thành nhiều trung tâm vừa và nhỏ , phân bố hợp lý;
không tập trung dân c quá đông vào các thành phố lớn. Một số địa bàn có
vị trí quan trọng đối với từng vùng ( ở phía Bắc là khu vực Hà Nội Hải
Phòng-Quảng Ninh ; phía Nam là khu vực TP Hồ Chí Minh Biên Hoà
-Bà Rịa Vũng Tàu ; miền Trung là Đà Nẵng Dung Quất và một số
thành phố cảng khác)cần thu hút đầu t của cả nớc và của nớc ngoài
Việc phát triển nhà ở tại khu vực đô thị phải đáp ứng đợc các
yêu cầu sau đây:
a.Tập trung huy động các nguồn lực nhằm phát triển quỹ nhà để
giải quyết những bức xúc về chỗ ở của nhân dân các đô thị, đặc biệt tại các
đô thị lớn đang có tốc độ đô thị hoá cao nh thủ đô Hà Nội , TP Hồ Chí
Minh , Hải Phòng, Huế, Vũng Tàu, Nha Trang cũng nh các khu công
nghiệp tập trung, các khu chế xuất .
b.Chơng trình phát triển nhà ở của từng đô thị phải thúc đẩy ch-
ơng trình phát triển kinh tế xã hội và phục vụ tốt yêu cầu của quá trình
đô thị hoá tại các địa bàn , không thể để tình trạng thiếu nhà ở ảnh hởng
Kinh tế và quản lý địa chính

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét